|
|
|
Mục
Lục
Dẫn nhập
Phần 1
01.- Đức Phật đă dạy về đề tài nào?
02.- Đức Phật dạy đặc biệt điều ǵ?
03.- Xin nói vắn tắt, thông điệp của Phật giáo là ǵ?
04.- Làm thế nào để chẳng chụp nắm và bám niú?
05.- Nơi nào chúng ta tu học được?
06.- Chánh pháp được so sánh với điều ǵ?
07.- Người Phật tử tại gia cần tu học những ǵ?
08.- Amatadhamma, Vô sanh pháp, là ǵ ?
09.- Pháp nào vượt được sự chết?
10.- Trong Kinh Pali, điểm nào được Phật nhấn mạnh?
11.- Đức Phật dạy ta phải tin điều ǵ và tin ai?
12.- Tâm người thường và Tâm Phật tử khác thế nào?
13.- Đường tu nào thông thường, đường nào ngắn nhứt?
14.- Nghiệp lực có vai tṛ nào trong Phật học?
Phần 2
15.- Cần nghe chính Phật giảng, mới hết khổ, phải không?
16.- Làm cách nào để giải quyết khi nghi rằng một giáo lư
chẳng phải do Phật giảng?
17.- Đức Phật phê phán dân chúng đời sau ra sao?
18.- Đức Phật kinh lễ những ai?
19.- T́m thấy Phật ở nơi nào?
20.- Đức Phật có hiện hữu vào giờ phút nầy không?
21.- Đức Phật có chấm dứt nghiệp lực của Ngài không?
22.- Đời sống nội tâm của Đức Phật như thế nào?
23.- Tại sao thế giới nầy lại rỗng vắng?
24.- Tại sao một tâm trạng hiểu biết sự rỗng vắng được mô
tả như một tâm trạng giải thoát?
25.- Việc ǵ xảy ra khi có sự rỗng vắng hoàn toàn?
26.- Niết bàn là ǵ?
27.- Có nên gọi thoả thích Niết bàn là ham thích không?
28.- Chứng đắc Niết bàn sau khi chết hay c̣n sống?
29.- Thú vật thấp kém có đắc Niết bàn không?
30.- Điều ǵ tốt lành tột bực cho nhơn loại?
31.- Thời nầy, có được bực A la hán không?
32.- Sống chơn chánh là nghĩa làm sao?
33.- Muốn trở thành A la hán, khó hay dễ?
34.- Nếu gặp một bực A la hán, ta có nhận ra không?
35.- T́m gặp ở đâu ra một vị A la hán?
36.- Thường nhơn có thể trở thành A la hán chăng?
37.- Một kẻ sát nhơn mà thành A la hán được sao?
38.- Thế giới hiện tràn đầy những ǵ?
Phần 3
39.- Điều ǵ lại nhiều phước, điều ǵ đem lại ít?
40.- Phước đức to lớn nhứt t́m thấy ở đâu?
41.- T́m ở đâu mà gặp được hạnh phước?
42.- Nên quan tâm đến mức nào về thần thông?
43.- Hạnh phước và đau khổ bắt nguồn từ đâu?
44.- Tại nơi nào ta có thể chấm dứt được đau khổ?
45.- Khi gọi là "thật sự biết rơ", th́ biết rơ đến mức nào?
46.- Thế nào là Nhập Lưu?
47.- Ư nghĩa của Bốn Cảnh giới Thảm ác là ǵ?
48.- Lời giáo huấn cuối cùng của Đức Phật là ǵ?
Kết luận
Tham chiếu Kinh điển
Vài nét về tác giả
Vài nét về dịch giả
Vài lời xin thưa thêm
|
-ooOoo-
TỰA
"Phật Pháp Cho
Sinh viên" là kết quả của
hai buổi nói chuyện đạo của Ajahn Buddhadàsa vào tháng
Giêng năm 1966 với các sinh viên viện Đại học Thammasat ở Bangkok.
Kể từ dạo ấy và các năm về sau, nhiều thanh niên Thái đă quay về
với Phật giáo để t́m cầu các giải đáp và triển vọng mà nền học vấn
hiện đại của họ theo kiễu Tây phương c̣n chưa cung ứng thoả đáng.
Trước các sự thay đổi nhanh chóng của xă hội, nhiều lúc gần đưa
đến sự xáo trộn, họ mong t́m ra một giải pháp bất bạo động cho các
vấn đề và các bất công đương thời. Sự quan tâm của họ rất đáng
khen ngợi nhưng c̣n cần được d́u dắt. Ứng dụng một cách mù mờ và
sai lầm các lư thuyết Phật giáo vào t́nh trạng rối loạn và tranh
chấp ở xă hội, cũng chẳng đem lại lợi điểm nào. Do đó, Ajahn
Buddhadàsa mới nỗ lực đưa, cả già lẫn trẻ, theo đúng con đường
mà Phật giáo đă chỉ dạy. Người thực hiện công tác ấy bằng cách
quay về với các nguyên lư nguyên thủy đă được Đức Phật nêu lên,
rồi Người giải thích các nguyên lư ấy một cách giản dị và trực
tiếp, cùng nêu rơ tánh cách thích đáng của các nguyên lư nầy vượt
cả thời gian. Chơn lư lúc nào cũng thích đáng và có thể đem ứng
dụng cho nước Ấn độ thời xưa cũng như ở Thái lan ngày nay, và ngay
cả tại các nước phát triển vượt bực ở Tây phương nữa.
Các buổi nói
chuyện đạo nầy được đặt tên là "Lak Dhamma Samrab Nak Seuksa"
("Các nguyên lư Phật pháp dành cho Sinh viên"). Hăy nh́n vào
nghĩa của các chữ trong tiêu đề trên, và ta sẽ thấy rơ ràng mục
đích của quyển sách nầy.
Trước tiên, chúng
ta phải hiểu nghĩa chữ "seuksa" (seuksa - đọc là
xực-xả - vốn được vay mượn từ tiếng Phạn và chữ sikkhà
với nghĩa tương đương trong tiếng Pali). Người Thái thường dùng
chữ seuksa để phiên dịch danh từ Anh ngữ "study" và
"education", nhưng sự thông dụng ngày nay đă làm giảm bớt ư nghĩa
của chữ ấy so với nghĩa nguyên thủy. Nghĩa của Seuksa c̣n
đi xa hơn là sự thu thập các kiến thức và kỹ thuật chuyên nghiệp
của chúng ta ngày nay. Nó có nghĩa là học tập về các sự vật thật
sự thích đáng cho đời sống và ứng dụng vào sự tự huấn luyện chính
ḿnh đúng theo các kiến thức đó. Nó là "sự học tập" đi sâu vào tâm
khảm, đúng như chữ sikkhà được phân tách ra thành "sa"
(bởi, dành cho và nơi chính ḿnh) và "ikkhà" (nh́n) --
"ḿnh nh́n vào chính ḿnh".
Nak
(đọc là nắc) nghĩa là "kẻ đang làm công tác, người khéo léo
hay một bực chuyên viên" khi nói về một hoạt động đặc biệt nào.
Một nak seuksa là một sinh viên, nhưng chẳng phải chỉ v́ đă
ghi tên học tại một trường, mang đồng phục, hay ôm nhiều sách vở.
Một người sinh viên thật sự phải seuksa đúng với mọi ư
nghĩa, mọi phương diện và mọi cấp bực của chữ seuksa nầy,
cho đến khi trở thành một chuyên viên giỏi dắn về seuksa.
Chẳng có học viện nào, thời khoá nào, học tŕnh nào có thể dung
chứa được một người sinh viên chính hiệu. Là sinh viên, đó chính
là một phận sự căn bản của mọi người, mọi chúng sanh, suốt trong
thời gian mà họ c̣n đang thở.
Lak
(đọc là lặc) nghĩa là "nguyên
lư, tiêu chuẩn, cột trụ, thành lũy, móc cắm". Một lak là
một vật chi mà ta có thể bám dựa vào -- một cách khôn ngoan -- để
giữ cho được ổn định vá an toàn. Người sinh viên khôn ngoan biết
bắt đầu sự khảo sát của ḿnh về các điều căn bản cho đến khi nào
thấy ḿnh đă hoàn toàn thấm nhuần vào các nguyên lư, rồi bấy giờ
mới tiến lên đi xa hơn nữa. Thật vậy, các điều thật sự căn bản
thường cũng là đủ rồi. Bước đầu tiên là phát hiện và nhận chân các
nguyên lư nhờ đó mà ta đi sâu vào cốt tủy của đề tài đang nghiên
cứu. Cẩn thận suy tư về các nguyên lư đó dẫn đến sự thông suốt.
Nhưng chỉ riêng khi nào biết hội nhập chúng vào đời sống của chúng
ta qua sự thực hành, bấy giờ các nguyên lư ấy mới thật sự trở
thành các thành lũy vững chắc đáng được tin cậy.
Chữ Dhamma
(đọc là thăm-má) thật khó cho ta phiên dịch [Buddha
Dhamma có nghĩa là Giáo pháp của Đức Phật, được chính Bực Đại
Giác giảng dạy]. Dhamma là cốt lơi của mọi cố gắng về tâm
linh và của mọi đời sống, kể cả các lối sông ćn trong ṿng thế
tục nhứt. Chữ Dhamma vừa có nghĩa là "sự vật". "Giáo lư",
vừa là "Chơn lư tối thượng. Ở đây, để khởi đầu một cách thực tiễn,
chúng ta có thể nhấn mạnh đến bốn nghĩa thiết yếu của chữ
Dhamma:
1.- "Thiên nhiên"
(pháp giới) -- tất cả mọi sự vật, kể cả nhơn loại, và tất cả
những ǵ chúng ta làm, cùng bản chất của các sự vật đó;
2.- "Định luật"
-- định luật thiên nhiên hàm tàng và đang chi phối tất cả mọi sự
vật đó;
3.- "Bổn phận"
-- lối sống mà mọi người, mọi chúng sanh phải noi theo, ngay cả
trong khi thở và vào mọi cơ duyên, chiếu đúng theo định luật
thiên nhiên đó;
4.- "Quả" -- kết
quả của bổn phận đă thi hành đứng đắn tuân theo định luật thiên
nhiên.
Bốn nghĩa đó chính
là căn bản mà người sinh viên học hỏi về chơn lư của đời sống cần
phải ghi nhận thật thâm sâu vào các nguyên lư của ḿnh. Và đấy là
chính cái thực tại mà mọi sự nghiên cứu cần phải hướng đến.
Samrab
có nghĩa là "dành cho". Các nguyên lư
giáo pháp chẳng phải đang trôi lơ lửng trong bóng mờ của siêu h́nh
học hay triết học. Chúng có một mục đích rơ ràng và một giá trị
thực tiễn. Chúng là nguồn cảm hứng phong phú cho các sinh viên.
Chúng dành cho những người thắc mắc t́m hiểu về cuộc đời, muốn
thấu rơ những ǵ chúng ta hiện đang theo đuổi ở đây và chúng ta sẽ
phải đi về đâu, và họ đang chán ngấy trước sự vị kỷ và khổ năo.
Tuy nhiên, các nguyên lư ấy chẳng phải để dùng làm những giáo điều
cần được sùng tín, ghi nhớ trong kư ức và đọc tụng lên cốt để làm
thoả măn t́nh cảm trong một ảo tưởng được an ninh. Các nguyên lư
ấy phải được dành cho chúng ta học hỏi, nghiên cứu, thực nghiệm
như là một phương tiện cho đời sống nhơn loại.
Quyển sách nầy bàn
về một số lớn các vấn đề thường bị lăng quên hoặc bị làm cho rối
mờ, mặc dầu các vấn đề ấy thật ra là cốt tủy tinh túy mà Phật giáo
đang cống hiến. Khi mà những vấn đề như đau khổ, tánh không,
bị đẩy lui vào bóng mờ khó nhận rơ của sự hàm hồ do các cuộc
đàm luận đầy tính chất kinh viện rất thường thấy nơi các môn phái
Phật giáo hiện đại, th́ Ajahn Buddhadàsa đang cố gắng giúp
chúng ta nhận chân được chúng ngay trong hơi thở của chúng ta,
ngay trong đời sống hiện tại của chúng ta. Nơi mà các ông "hàn lâm
kiểu cách", cả ở Đông phương và Tây phương, chỉ nh́n thấy lư
thuyết và triết học, chính nơi đó Ajahn Buddhadàsa đă nhận
ra được những khí cụ cho đời sống trong hoà b́nh và chơn lư. Lối
nh́n và lời chỉ dạy của Người thật rơ ràng và ngắn gọn: chúng tôi
hi vọng rằng khi cố pghiên dịch ra Anh ngữ, chúng tôi đang đền đáp
được phần nhỏ nào ân nghĩa đối với Người và với các Sư phụ của
Người -- Đức Phật, Chánh Pháp, Đời sống và Đau khổ.
Nơi đây ta t́m
thấy các câu hỏi mà mọi người biết vun bồi Chánh pháp thường tự
hỏi lấy ḿnh, vào một lúc nào đó trong cuộc đời. Những kẻ khác
chắc cũng hỏi chúng ta về các vấn đề đó. Do đó, kể cũng tiện lợi,
lúc cần đến, ta đă có sẵn những câu trả lời trong suốt và gọn ghẽ.
Hơn thế nữa, các câu trả lời ấy lại được trích dẫn từ các lời nói
của chính Đức Phật. Và tốt đẹp nhứt là lối Người đề cập đến các
vấn đề một cách thực tiễn, dễ hiểu, dẹp qua một bên các điều thần
bí, các chuyện thần thoại, mà chúng ta thường đễ duôi mê thích
trong sự xao lăng. Theo đuổi sự khảo sát -- trong quyển sách nầy
và ngay cả trong đời sống của chúng ta -- một cách thực tiễn, xác
thật và ngay thẳng chẳng dấu diếm hay lẫn tránh, đó là cách loại
trừ các sự hiểu lầm, giải thích sai và nhẹ dạ tin lầm, thường thấy
nhan nhản trong các tôn giáo. Đối chiếu các chơn lư đó với đời
sống hằng ngày sẽ phát hiện được sự cao thâm của các chơn lư đó và
đồng thời giải thoát chúng ta ra khỏi nỗi
khổ đau
và nguyên nhơn của nó là
vô minh.
Quyển sách nhỏ nầy
được in lại vài lần kể từ khi Tỳ kheo Ariyananda (Rod
Bucknell) phiên dịch lần đầu tiên. Kỳ xuất bản nầy, tuy nhiên, đă
được tôi sửa chữa và sau đó có sự giúp đỡ của Rod. Chúng tôi có
sửa lại vài chỗ sai lầm nho nhỏ và các lỗi về ấn loát, nhằm giúp
cho quyển sách dễ đọc hơn, nhưng chẳng có sự thay đổi nào quan
trọng. Nhiều quí khách của chúng tôi đến thăm tu viện Suan Mokkh
có đưa thêm nhiều đề nghị và tiếp tay đọc giúp bản in trong khi
chuẩn bị việc ấn loát. Rất tiếc là danh tánh qúi vị nầy rất đông,
nên chẳng thể nêu lên hết được. Sau cùng, Tỳ kheo Dusadee
Metamkura, Chao Assava và các thân hữu trong Nhóm Nghiên cứu và
Thực hành Giáo pháp (The Dhamma Study & Practice Group) đă trông
nom việc xuất bản. Sự nhiệt tâm và hảo ư của qúi vị để phổ biến
rất nhiều quyển sách có giá trị về Chánh pháp rất đáng được tri ân,
tán thán và hỗ trợ.
Nguyện cầu nỗ lực
của các Đạo hữu nghiền ngẫm quyển sách nầy được tăng phần thanh
lương và trí huệ, cùng với tất cả các bạn khác trên khắp thế giới.
Nguyện cầu quyển sách nhỏ nầy được đọc đi đọc lại cẩn thận để cho
các chơn lư chứa đựng trong đây có dịp bắt rễ sâu vào tâm thức của
chúng ta. Nguyện cầu tất cả chúng ta đều học tập và sống hoà điệu
với các chơn lư đó, để dập tắt hết mọi tàn tích của sự hiểu lầm,
ích kỷ và đau khổ.
Tỳ kheo Santikaro
Suan Mokkhabalàràma
Muà An cư kết hạ, 1988.
-ooOoo-
NHẬP ĐỀ
Thưa các Bạn Đạo,
Buổi nói chuyện
hôm nay được mạng danh là "Phật
Pháp Cho Sinh viên."
Tôi muốn nói rơ
với các bạn rằng buổi nói chuyện nầy sẽ bàn đến các điều chủ yếu
và các nguyên lư căn bản, và đặc biệt dành cho các sinh viên, tức
là các người trí thức. Tôi sẽ bàn luận đến các nguyên lư rộng răi
về Giáo pháp (Chơn lư Thiên nhiên), dưới h́nh thức vấn đáp, trước
đặt câu hỏi với các bạn, rồi sau sẽ cung ứng câu trả lời. Được
nghe câu hỏi trước, các bạn sẽ thấy câu trả lời dễ hiểu và dễ nhớ
hơn. Tôi nghĩ rằng cách nầy phù hợp nhứt để tŕnh bày với các bạn
sinh viên, tức là những người thông minh. Người ta thường kể rằng,
vào thời Đức Phật, các bực thông minh chẳng hỏi ǵ ngoài các điểm
chủ yếu và các nguyên lư căn bản. Họ chẳng bao giờ chờ đợi những
lời giải thích tẻ nhạt. Điều đó có nhiều lợi điểm, nhứt là tiết
kiệm được thời giờ.
Và đây là việc tôi
sẽ làm ngày hôm nay: đặt một câu hỏi nêu ra một đề tài cho chúng
ta, rồi trả lời câu hỏi đó với các nguyên lư căn bản. Bằng cách ấy
các bạn sẽ có được các điều thiết yếu về một số lớn đề tài cùng
các sự kiện sẽ giúp các bạn dùng làm nền tảng tổng quátvà vững
chắc. Có được một nền tảng kiến thức sẽ đem lại thành quả tốt đẹp
trong tương lai; nó sẽ giúp các bạn nghiên cứu và hiểu rơ các diễn
giả khác.
Một điểm nữa. H́nh
thức của buổi nói chuyện của tôi c̣n chuẩn bị cho các bạn được sẵn
sàng khi gặp người ngoại quốc, hoặc người thuộc tôn giáo khác hỏi
đến. Nó sẽ giúp các bạn trả lời các câu họ hỏi, trả lời đúng đắn,
chẳng gây thêm sự hiểu lầm nào liên quan đến Giáo pháp. Xin nhớ kỹ
các điều vừa nói, chúng hợp thành cốt lơi của vấn đề. Nếu các bạn
khéo nhớ được chừng ấy, th́ đó sẽ là một việc rất tôt, và tôi tin
rằng, sẽ có lợi thật to lớn cho tất cả các bạn.
Giờ đây, tôi xin
lần lượt bàn luận về các đề tài.
Thí dụ như chúng
ta được hỏi:
01.- Đức Phật đă dạy về đề tài nào?
Cách hay nhứt để
trả lời điều ấy là viện dẫn lời nói của chính Đức Phật. " Nầy
các tỳ kheo, Như Lai chỉ dạy về ĐAU KHỔ (Dukkha, đau khổ, bất
toại nguyện) và sự chấm dứt
Đau khổ."
Cho dầu các bạn có
đồng ư với câu trả lời đó hay không, tôi cũng xin bạn ghi nhớ lấy
nó. C̣n có nhiều cách khác để trả lời, nhưng lời giải đáp nầy
chính là lời của Đức Phật đă tóm tắt lại tất cả giáo pháp của Ngài
rất ngắn gọn.
Đức Phật chỉ chỉ
dạy có Đau khổ và sự dập tắt Đau khổ. Điều nầy đă
khiến cho các câu hỏi chẳng liên quan trực tiếp đến sự chấm dứt
Đau khổ trở thành chẳng thích nghi với vấn đề. Các bạn khoan
nghĩ đến các câu hỏi khác, như: "Sau khi chết, c̣n có tái sanh
không?" hoặc: "Tái sanh diễn ra như thế nào?" Các câu
hỏi đó sẽ được cứu xét đến sau nầy.
Vậy th́, nếu một
người Tây phương hỏi chúng ta câu hỏi trên, chúng ta sẽ trả lời
rằng: "Đức Phật chẳng dạy
điều ǵ khác hơn là Đau khổ, cùng sự chấm dứt Đau khổ."
* * *
Tiếp theo câu hỏi
vừa qua, chúng ta có thể được hỏi thêm:
02.- Đức Phật đă dạy đặc biệt điều ǵ?
A.-
Như các bạn thấy, đây là một vấn đề
lớn có thể trả lời nhiều cách tuỳ theo qun điểm khác nhau. Nếu
được hỏi như trên, chúng ta có thể đáp, quan trọng hơn hết, Ngài
dạy chúng ta đi theo con
đường Trung Đạo, đừng quá
khổ hạnh mà cũng đừng quá dể duôi; đừng ngă theo cực đoan nầy cũng
chẳng theo cực đoan kia. Một mặt, chúng ta tránh sự tự ép xác quá
nhọc nhằn của các phái du già (yiga) chỉ tạo thêm sự khó khăn và
rối rắm. Mặt khác, chúng ta phải tránh xa đường lối thực hành c̣n
chấp thuận các thú vui nhục dục, cũng như bảo: "Cứ ăn, cứ uống, cứ
vui đùa, v́ ngày mai chúng ta sẽ chết mất!" Đấy là lời nói rất trơ
trẽn, chỉ thích hợp với hạng người đắm đuối trong thú vui vật chất.
Ngược lại,
con đường Trung Đạo,
một mặt chẳng tạo thêm các cực nhọc
cho ta, và mặt khác, chẳng chiều theo dục vọng để hưởng thọ các
thú vui nhục dục. Đi theo
con đường Trung Đạo sẽ
mang đến cơ duyên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự học tập và
thực hành, và thành công trong việc chấm dứt đau khổ. Từ
ngữ Con Đường Trung Đạo có thể ứng dụng vào nhiều t́nh
trạng khác nhau. Nó chẳng thể nào đưa bạn đi lạc đường cả. Nó chủ
trương sự tiét chế. Biết các nguyên nhơn, biết các hậu quả, biết
chính ḿnh, biết đến mức nào gọi là đủ, biết đúng thời, biết người
khác, biết các cộng đồng: đó là Bảy Điều Hiểu Biết Cao thượng lập
thành các bước đi theo Con
Đường Trung Đạo.
Đó là một cách để
trả lời câu hỏi trên.
B.-
Chúng ta cũng có thể trả lời đúng đắn
bằng cách nói rằng Đức Phật dạy Sự Tự Lực. Các bạn đều hiểu
rơ cả thế nào là tự lực, chắc chẳng cần phải giải thích
thêm. Nói cách vắn tắt, chúng ta chẳng nên tin cậy vào thời vận và
định mạng. Chúng ta chẳng nên tin cậy vào các bực Trời, ngay cả
bậc thường được gọi là "Thượng Đế". Chúng ta phải tự lực, trông
cậy vào chính ḿnh. Viện dẫn chính lời Đức Phật: "Ta là nơi
nương tựa của Ta." Ngay cả trong các tôn giáo hữu thần cũng
nói rằng Thượng Đế chỉ cứu giúp những ai biết tự cứu lấy ḿnh.
Trong các đạo giáo khác, vấn đề tự lực có thể được nói đến
hoặc ít hoặc nhiều, nhưng trong Phật giáo, vấn đề tự lực
rất là quan trọng. Khi một người bị phiền muộn và bị lừa phỉnh,
đau đớn và thống khổ, người ấy phải biết quay về con đường tự cứu.
Đức Phật bảo: "Như Lai chỉ
chỉ con đường. C̣n nỗ lực là điều mọi người phải tự ḿnh làm lấy."
Nói cách khác, Đức Phật
dạy tự lực. Ta nên ghi nhớ kỹ điều ấy.
C.-
Một cách khác để đáp câu hỏi trên là
nhắc lại lời Đức Phật dạy rằng:
"Mọi sự vật đều được gây nên và bị
điều kiện hoá. Mọi sự vật xuất hiện tùy thuộc vào nguyên nhơn và
điều kiện, đúng theo định luật."
Lời phát biểu đó cũng giống với câu
giải đáp của một vị tỳ kheo - Tôn giả Át bệ (*) - cho Tôn giả Xá
lợi phất (*) trước khi vị sau nầy gia nhập Tăng Đoàn: "Đức Phật có
dạy rằng, mọi sự vật khởi
lên do nguyên nhơn. Ta phải biết nguyên nhơn của sự vật đó cùng sự
chấm dứt nguyên nhơn của nó."
Nguyên lư nầy của Giáo Pháp rất là
khoa học, ngay tự nơi bản chất, và chúng ta có thể khẳng định rằng
các nguyên lư của Phật giáo đều phù hợp với khoa học. Đức Phật
chẳng hề dùng các dữ kiện cá nhơn hay chủ quan để làm tiêu chuẩn;
nói cách khác, Phật giáo là một tôn giáo của Lư trí.
[*Át bệ =
Asjavit; Xá lợi phất = Sariputta.]
D.-
Lại c̣n một cách khác để giải đáp câu
hỏi số 02, là Đức Phật đă dạy, như một qui tắc cho sự thực hành:
"Hăy tránh các điều ác,
siêng làm các việc lành, thanh lọc tâm ư."
Ba điều ấy hợp lại thành Ovàda
pàtimokkha (Khích lệ Giới bổn), có nghĩa là "tóm tắt các lời
khuyến khích": tránh điều ác, siêng làm lành, thanh lọc tâm ư cho
trong sạch.
Tránh điều ác và
siêng làm lành chẳng cần phải giải thích thêm; nhưng cách làm cho
tâm thức con người trở nên trong sạch th́ c̣n chưa nhận thấy được
hiển nhiên. Nếu một người cứ lo chụp nắm và bám níu, ngay cả vào
điều lành đi nữa, trong tâm thức người ấy sẽ khởi lên sự ô uế: lo
sợ chẳng nhận được điều lành, lo sợ bị từ khước các điều tốt đang
có, ưu sầu, phiền muộn, và quyến luyến cái nầy, cái nọ coi như là
"của tôi". Tất cả những thứ đó tạo nên đau khổ. Dầu
cho chúng ta có thành công trong việc tránh ác và làm lành, chúng
ta vẫn c̣n phải biết cách làm sao cho tâm thức ḿnh được thanh
tịnh. Đừng chụp nắm và bám níu vào bất cứ sự vật ǵ coi như là
ta, hoặc là của ta. Bằng không, sẽ có khốn khó và
đau khổ (dukkha) đè nặng trĩu lên. Nói cách khác, chụp nắm và
bám níu là gánh nặng trên ḿnh. Đeo bên vai hay đội trên đầu một
bịt ngọc ngà châu báu cũng nặng y như đang vác một bịt sỏi đá vậy.
Vậy th́, đừng mang sỏi đá, ngọc ngà chi cả. Hăy đặt chúng xuống.
Bạn đừng để vật nặng nào trên đầu (đầu , ở đây, có nghĩa là
tâm thức). Thanh lọc tâm ư chính là nghĩa đó.
Thứ nhứt tránh
việc ác, thứ hai siêng làm lành, c̣n thứ ba là thanh lọc tâm thức,
đó là lời dạy của chư Phật.
E.-
Và đây là một lời dạy quan trọng khác
nữa đáng được nhắc nhở luôn. Đức Phật dạy rằng: "Tất cả những
sự vật hữu vi (những vật tổ hợp tức là tất cả mọi sự vật, mọi
chúng sanh trên thế giới)
đều chuyển trôi măi măi, luôn luôn tan vỡ
(nghĩa là đều vô thường).
Mọi người phải nên luôn luôn tỉnh thức!" Xin các bạn hăy nghe
cẩn thận các chữ nầy: mọi
vật trên cơi đời nầy luôn luôn chuyển trôi, rồi tan vỡ; tất cả đều
vô thường. Đừng chạy theo
vui đùa với chúng! Chúng sẽ cấu xé bạn. Chúng sẽ tát vào mặt bạn.
Chúng sẽ trói buộc bạn thật chặt chẽ. Rồi bạn sẽ ngồi bệt xuống
đất mà khóc than, và biết đâu lại muốn ... tự tử!
Giờ đây, hăy đúc
kết lại các cách khác nhau để trả lời câu hỏi số 02. Nếu được hỏi,
Đức Phật đă dạy điều ǵ,
ta sẽ trả lời bằng một
trong các câu sau đây:
|
- Ngài dạy
chúng ta nên đi theo
con đường Trung Đạo;
-
Ngài dạy chúng ta phải
tự lực;
-
Ngài dạy chúng ta phải quen thuộc với Định luật Nhơn quả
và thích ứng với nguyên nhơn để hưởng như ư muốn cái hậu
quả sẽ theo sau;
- Ngài dạy
chúng ta một nguyên tắc thực hành:
tránh điều ác, siêng làm lành,
thanh lọc tâm ư;
-
và Ngài nhắc nhở chúng ta phải biết
các sự vật hữu vi đều vô thường,
luôn luôn chuyển biến
và lúc nào chúng ta cũng phải tỉnh thức. |
* * *
Giờ đây nếu gặp
một người ngoại quốc hỏi:
03.- "Xin nói vắn tắt, thông điệp của
Phật giáo là ǵ?"
Có thể đáp ngay
bằng lời nói vắn tắt của Đức Phật:
"Chẳng có bất cứ điều ǵ có thể chụp
nắm và bám níu vào cả."
Lời Phật, "Chẳng
có chi để chụp nắm và bám níu vào cả" là là một câu cách ngôn,
ngay trong tầm tay của ta, đâu cần mất thêm thời giờ đi tra cứu
trong Tam Tạng Kinh Điển (các lời dạy về Giáo pháp được ghi chép
lại), v́ câu ngắn gọn ấy nói lên đầy đủ và rơ ràng. Trong tất cả
các bản Kinh, trong toàn thể Giáo pháp, nhiều đến tám vạn bốn ngàn
đề tài, tất cả đều có thể tóm gọn trong một câu duy nhứt:
"Chẳng có chi để chụp nắm và bám
níu vào cả." Câu ấy dạy ta
rằng hễ chụp nắm sự vật và bám níu vào chúng là đau khổ
(dukkha). Một khi đă hiểu rơ được lời nói ấy, th́ có thể bảo
là đă biết tất cả các lời Phật đă thốt ra, toàn bộ tám vạn bốn
ngàn Pháp môn. Và hễ đem câu ấy ra thực hành, đó là đang thi hành
trọn vẹn Giáo pháp, trong mọi giai đoạn và dưới mọi h́nh thức.
Lư do v́ sao một
người thất bại trong việc giữ ǵn giới cấm, chính là v́ y
đă chụp nắm và bám níu vào sự vật. Nếu y biết tự kềm chế chẳng
chụp nắm và chẳng bám níu vào bất cứ sự vật chi và dẹp đuợc sự
thèm khát cùng sự oán ghét, th́ y chẳng thể nào phạm vào giới
được. Lư do v́ sao tâm trí một người lại luôn xao lăng và
chẳng định tâm được, là v́ y đang chụp nắm và bám níu vào
một điều ǵ. Lư do v́ sao một người c̣n thiếu trí huệ cũng
giống như vậy. Một khi anh ta đă biết tập tánh buông bỏ chẳng chụp
nắm nữa, liền đó anh tiến theo Con Đường Chánh Đạo, đạt
được Quả vị và cuối cùng chứng đắc Niết bàn (Pali = Nibbàna;
Phạn = Nirvàna).
Đức Phật là người
chẳng hề nắm bắt điều chi cả. Chánh Pháp chỉ dạy sự thực hành việc
buông bỏ chẳng bám níu và quả vị của sự từ khước nắm bắt. Tăng già
(Cộng đồng các vị thánh đệ tử của Đức Phật) gồm có các vị thực
hành sự chẳng chụp nắm, một số vị c̣n đang tập luyện, một số đă
hoàn tất.
Khi được yêu cầu
tóm tắt Giáo pháp của Ngài trong một câu ngắn, Đức Phật đă đáp:
"Chẳng có bất cứ điều nào
mà ta nên chụp nắm và bám níu vào cả."
* * *
04.- "Làm thế nào để thực hành việc
chẳng chụp nắm và chẳng bám níu?"
Khi bạn gặp một
người ngoại quốc hỏi, bằng cách nào mà thực hành được việc chẳng
chụp nắm, th́ bạn nên, một lần nữa, đem câu nói của chính Đức Phật
ra mà trả lời. Khỏi cần đưa ư kiên riêng của chúng ta ra. Đức Phật
dạy thật đầy đủ như sau:
"Khi mắt thấy một
vật, chỉ thấy vật ấy. Khi tai nghe một tiếng, chỉ nghe tiếng ấy.
Khi nũi nguủi một mùi, chỉ ngửi mùi ấy. Khi lưỡi nếm món ǵ, chỉ
nếm món đó. Khi có cảm xúc trên dahay trên thân, chỉ biết đến cảm
xúc ấy. Và khi một ư nghĩ, một đối tượng tâm linh, khởi lên trong
tâm, như một tư tưởng xấu chẳng hạn, chỉ biết tư tưởng ấy."
Tôi xin hăy đọc
trở lại lời dạy trên, để giúp những bạn chưa từng nghe đến câu ấy.
Khi nh́n thấy, chỉ có sự thấy mà thôi. Nếu có thể được, khi đang
thấy, chỉ thấy thôi; khi nghe, chỉ nghe; khi ngửi mùi, chỉ ngửi
mùi; khi nếm vị, chỉ nếm; khi nhận một cảm giác trên da hay trên
thân, chỉ thể nghiệm cảm giác ấy; và khi một đối tượng tâm linh
khởi lên trong tâm thức, chỉ biết đang có đối tượng đó. Điều nầy
có nghĩa là chẳng nên để cho tư tưởng về thân kiến (ư nghĩ
về ta) khởi lên. Đức Phật dạy, nếu một người năng
thực tập như htế, cái ta (cái tự ngă) chẳng thể nào
khởi sanh được; rồi th́ sự vắng mặt của cái ta (tự ngă) tức
là sự chấm dứt đau khổ
(dukkha).
"Nh́n thấy một vật
qua con mắt, chỉ thấy mà thôi."
Cần giải thích thêm điều nầy. Khi có
vật tiếp xúc với mắt, hăy quan sát cùng nhận ra vật ấy và biết cần
phải làm điều ǵ khi thấy vật đó. Nhưng đừng để cho thương,
thích hay ghét, chê khởi lên. Nếu bạn nổi lên thương,
bạn sẽ ham muốn vật đó. Nếu bạn để cho ghét nổi lên,
bạn sẽ muốn phá hủy nó. Như thế là hiện đang có mặt ở đó cả
người thương lẫn kẻ ghét. Đấy là điều được gọi là
cái Ta, cái Tự ngă. Theo con đường của cái Ta là đang
đau khổ và thất vọng. Khi một vật được nh́n thấy, cần phải
có trí thông minh cùng sự nhận biết. Đừng để cho các ô nhiễm trong
tâm buộc bạn phải chụp nắm và bám níu. Đào luyện trí thông minh để
biết điều ǵ cần làm cho đúng và thích hợp. Nếu thấy chẳng cần làm
ǵ, th́ quên vật đó ngay đi. Nếu đang chờ đợi một kết quả nào về
vật ấy, th́ cứ tiến hành làm ngay, với sự nhận biết của trí thông
minh, mà chẳng để cho thân kiến (ư tưởng vể cái ta) có dịp
sanh khởi lên được. Bằng cách ấy, bạn có được kết quả bạn mong
muốn mà chẳng có sự đau khổ nào xảy ra cả. Đấy là một
nguyên tắc thực hành Giáo pháp rất gọn, đáng được xem là tuyệt hảo.
Đức Phật dạy: "Khi
thấy, chỉ thấy. Khi nghe, chỉ nghe (...) Khi nhận biết một đối
tượng tâm linh, chỉ nhận biết nó." Hăy ngưng lại ngay đó, và trí
huệ tự nhiên sẽ chuyển động. Hăy chọn lấy lối đi đúng đắn và thích
hợp. Đừng khai sanh thêm "người thương" hay "kẻ ghét", và tùng
theo đó là cái ư muốn hành động theo sự thương hay sự ghét, v́ đấy
chính là sự khởi sanh ra cái tự ngă trong tâm. Một tâm tư
như thế trở nên náo động, chẳng được tự do. Tâm tư ấy hoạt động
chẳng có chút trí huệ nào cả.
Tại sao ta lại
chẳng nêu lên giới, định,
huệ, tạo phước đức hay
bố thí liên quan đến một công đức đầy thắng quả như thế? Các
điểm ấy (giới, định, v.v.) là những trợ duyên giúp cho hành giả,
chớ chúng chẳng phải là cốt tủy của Giáo Pháp, c̣n chưa phải là
phần thiết yếu. Chúng ta tạo phước đức, bố thí, giữ giới, tập định,
và phát triển trí huệ, chính là để trở thành người an định. Khi
đang thấy, chỉ thấy; khi đang nghe, chỉ nghe. Thực hiện điều nầy,
chúng ta trở thành an định. Chúng ta có được sự an định, sự chẳng
lay chuyển và thế quân b́nh. Mặc dầu cảnh vật bên ngoài đến tiếp
xúc với chúng ta hằng ngày, dưới nhiều h́nh thức qua các nẻo của
giac quan, cái tự ngă (Ta) cũng chẳng sanh khởi ra được.
Tạo phước đức, bố thí là những phương cách để loại trừ cái Ta
ra. Giữ giới là phương thức giúp chúng ta làm chủ mà trị được
cái Ta, sự luyện tập định lực cũng có hiệu lực như thế.
Phát triển trí huệ dùng để tiêu diệt cái Ta. Nơi đây, chúng
ta chẳng bàn đến nhiều vấn đề khác nhau, chúng ta chỉ nói đến một
vấn đề khẩn cấp hằng ngày. Hằng ngày, đôi mắt chúng ta nh́n thấy
vật nầy, món nọ, tai chúng ta nghe tiếng nọ, tiếng kia; mũi chúng
ta ngửi mùi nầy, hương nọ, và rồi cho chí đến sáu cửa của các giác
quan. Chỉ riêng có
công phu thực tập nầy cũng đủ bao trùm hết mọi công phu. Nó chính
là bản chất, là tinh túy, của sự thực hành Giáo pháp.
Nếu có người ngoại
quốc nào hỏi bạn câu số 04 trên đây, xin hăy trả lời như vừa nói.
* * *
Thí dụ như một
người ngoại quốc hay một người khác tôn giáo với bạn, đến hỏi bạn
rằng:
05.- "Nơi nào chúng ta có thể tu học
được?"
Lại một lần nữa,
chúng ta đáp bằng cách trích dẫn lời nói của Đức Phật,
"ngay trong tấm thân 'một thước tám'
nầy, với các tri giác và các hoạt động tâm linh."
Tu học ngay trong tấm thân của con người cùng với các tri giác và
hoạt động tinh thần. Tấm thân "thước tám" nầy, c̣n đang sống động,
cùng với các tri giác, các hành động tâm thức, tất cả các phần đó
lập thành con người. Sự hiện diện của tâm thức bao hàm các
tri giác, và sự hiện diện của các hoạt động tâm linh bao hàm các
kiến thức và tư tưởng.
Trong tấm thân "thước
tám" đó cùng với các tri giác và các hoạt động tâm linh, đấng Như
Lai (Đức Phật) đă cho biết rơ ràng thế giới, nguồn gốc của thế
giới, sự tận diệt của thế giới, cùng đường lối thực hành để hoàn
tất sự diệt tận đó. Khi Ngài nói đến nguồn gốc của thế giới, sự
hoại diệt của thế giới, cùng đường lối thực hành đưa đến sự tiêu
diệt hoàn toàn thế giới đó, Ngài muốn nói rằng toàn thể Giáo Pháp
đều phải t́m thấy ngay trong thân tâm nầy. Tu học ngay nơi đó.
Đừng đi học ở trường, ở nơi hang động, ở cảnh rừng hoang, trên
ngọn núi cao, hay ở trong tu viện. Các nơi đó đều nằm bên ngoài
chúng ta. Hăy xây dựng một ngôi trường bên trong, thiết lập một
đại học đường ngay trong thân thể. Rồi hăy nghiên cứu, học tập,
điều tra, sưu tầm, thám thính đó đây, t́m cầu chơn lư về sự tạo
khởi của thế giới, v́ đâu thế giới lại là suối nguồn của đau khổ,
thế giới có thể được huỷ diệt hoàn toàn chăng (tức là sự huỷ diệt
của đau khổ) và làm cách nào để tận diệt được nó. Nói cách khác
hơn để diễn đạt lại ư nầy, đó là hăy tự ḿnh khám phá trở lại Bốn
Chơn Lư Nhiệm Mầu (Tứ Diệu Đế). Bực Đại Giác (Đức Phật) đôi khi
dùng danh từ "thế giới", đôi khi dùng danh từ
"đau khổ" (Dukkha).
Bản chất của thế giới, của sự đau khổ,
bản chất của sự sanh khởi và nguồn gốc của thế giới, bản chất của
sự diệt tận hoàn toàn của thế giới, của đau khổ, cùng với bản chất
của công phu tu tập theo Giáo Pháp để đi đến sự chấm dứt đau
khổ: những vấn đề đó cần được t́m ṭi và nhân thấy ra ngay
trong thân tâm nầy, chớ chẳng ở nơi nào khác. Nếu ai đă t́m thấy
các vần đề đó tại một nơi nào khác, th́ đó chỉ là bản tường tŕnh
ghi trong sách vở, hoặc là lời đồn đăi, hay là danh từ rỗng suông
mà thôi, chớ chẳng phải là Chơn lư. Nếu đă được t́m thấy ngay
trong tấm thân "thước tám" nầy (fathom long body), cùng với tâm
thức, th́ đó mới thật là Chơn lư.
Vậy th́, nếu được
hỏi, cần phải tu học ở nơi nào, bạn sẽ đáp, chúng ta tu học
ngay trong tấm thân "thước tám" nầy, cùng với các tri giác và các
hoạt động tâm linh.
* * *
Giờ đây, chúng ta
có thể được hỏi tiếp, để được hiểu thêm rơ ràng về Chánh Pháp:
06.- "Chánh Pháp được so sánh với
điều ǵ?"
Đức Phật nói:
"Chánh Pháp có thể được so
sánh với chiếc bè," Ngài
đă dùng chữ chiếc bè, v́ ngày xưa chiếc bè thường được xử
dụng để vượt sang sông và cách giải thích Chánh Pháp như thế rất
dễ hiểu. Nhưng lời ví dụ nầy mang một ư nghĩa thật quan trọng. Ta
chẳng nên quá quyến luyến vào Chánh Pháp đến nổi quên cả chính
ḿnh, quá hảnh diện ḿnh là "ông thầy", một nhà học giả, hay một
bực trí thức học rộng. Nếu ta quên mất rằng Chánh Pháp chỉ như
chiếc bè, các nguy cơ ấy sẽ lại nổi lên. Chánh Pháp là một chiếc
bè, một phương tiện chuyên chở, để đưa ta sang đến bờ bên kia. Đă
đến bờ bên kia và bước chơn lên đất liền, ta chẳng điên khùng ǵ
mà mang vác chiếc bè đi theo ta nữa.
Ví dụ đó dạy ta
phải biết nhận chân ra và xử dụng chánh Pháp như một phương tiện
để đạt đến mục đích, chớ chẳng để chụp bắt và bám níu vào, cho đến
mức quên cả chính ḿnh đi. Nếu ta chẳng nhận chân ra nhiệm vụ thật
sự của chiếc bè, chúng ta có thể giữ nó lại bên ḿnh để phô trương
hoặc để tranh căi với kẻ khác. Đôi khi nó lại c̣n được đem dùng để
đua thuyền, thật là hao phí và vô dụng. Nó phải được xử dụng đúng
theo chủ đích, để bơi sang sông, để vượt ḍng nước. Kiến thức về
Chánh pháp cần phải được xử dụng để vượt qua biển khổ. Nó chẳng
nên được cầm giữ lại v́ mục đích có hại, như để chiến đấu nhau
bằng miệng lưỡi sắc bén như gươm, hoặc để tranh luận, hay được
dùng như một tế vật để tôn thờ, lễ bái. Sau cùng, xin đừng chụp
nắm và bám níu vào nó, để đến nổi khi đă sang bờ bên kia, bước
chơn lên đất liền rồi mà vẫn c̣n muốn mang kè kè chiếc bè theo
ḿnh.
* * *
Chánh pháp kia,
được xem giống như chiếc bè, áp dụng cả cho người xuất gia cùng
người vẫn c̣n sống trong gia đ́nh. Giả dụ như chúng ta được hỏi
rằng:
07.- "Người Phật tử tại gia cần tu học những ǵ?"
Chúng ta đừng để
mất thời giờ mà đi t́m cách trả lời theo ư riêng của ḿnh; nếu ai
đă muốn như thế, th́ cũng tốt, chẳng điều chi ngăn trở anh ta làm
như vậy. Nhưng nếu chúng ta muốn giải đáp đúng theo những ǵ Đức
Phật đă dạy, th́ chúng ta phải nên nói rằng: "Người Phật tử tại
gia nên học tất cả Kinh kệ, nghĩa là,
tất cả những bản Kinh mà Đức Như Lai
đă dạy về Tánh Không." (Sunnatà,
sự rỗng vắng).
Các bản Kinh Kệ
hợp thành một bản trần thuyết khéo hệ thống hoá các lời giảng
trong Giáo Pháp, là phần cốt tủy tinh tuư của các lời Phật dạy.
(...) Một bản Kinh là một bài giảng thật khéo sắp đặt, có thứ tự,
và là tinh túy vủa đề mục (...)
Xin nhớ cho rằng
Kinh kệ chính là lời nói của Đức Như Lai (Tathàgata). Tất cả Kinh
kệ của Đức Phật thuyết giảng đều liên hệ đến Tánh Không (Sunnatà,
sự rỗng vắng). Về vấn đề nầy, khi có người c̣n tại gia thưa
hỏi, họ cần tu học và thực hành những ǵ để được lợi lạc to lớn và
được hạnh phước, Đức Phật đáp: "Các Kinh kệ là những lời nói của
Như Lai, rất cao sâu, ư nghĩa thâm trầm, là những phương cách để
vượt thoát cơi thế gian , và đều liên hệ đến Tánh Không."
Danh từ Tánh
Không, Sunnatà, xem như quá xa lạ đối với các bạn, nhưng xin
đừng vội chán nản, v́ đây là một chữ quan trọng vào bực nhứt trong
Phật học. Chữ Sunnatà có thể được dịch là sự rỗng vắng;
nhưng rỗng, vắng thường có nhiều nghĩa và cách dùng
khác nhau. Chữ Tánh Không, Sunnatà, trong Phật học chẳng
phải là sự rỗng vắng về vật chất; nó chẳng phải là một khoảng
trống không chẳng chứa đựng một chất vật liệu nào. Chẳng phải thế!
Đây là một trường hợp rỗng vắng theo cái nghĩa chẳng có được chút
bản thể thiết yếu nào, bởi v́ tất cả mọi sự vật khác vẫn c̣n hiện
diện đầy đủ ở đó. Vẫn c̣n có đủ muôn vàn h́nh vật khác tràn đầy
khắp thế giới, thế mà Đức Phật dạy rằng, muôn vật đều rỗng vắng,
hay là muôn vật đều có tánh cách rỗng vắng, chỉ v́ chẳng có một
chút ǵ nơi muôn vật đó đáng được xem là tự ngă, là Ta
(là chính ḿnh) và thuộc về của Ta, thuộc về tự ngă
của Ta. Lời dạy ấy nhằm mục tiêu là chỉ rơ, lại một lần nữa,
là chẳng có ǵ để chụp nắm
và bám níu vào cả.
Người c̣n tại gia
cần tu học đặc biệt về các lời nói của Đức Phật liên quan đến
Tánh Không. Thông thường, đề mục nầy bị hiểu lẩm là quá cao xa
đối với người đời. Lư do giản dị là rất ít người vui ḷng thực
hành theo các lời dạy đó của Đức Phật. Vậy xin các bạn ghi nhớ cho
rằng, chẳng riêng ǵ cho các tỳ kheo, người tại gia cũng phải học
hỏi, thực hành và nhiên hậu mới khám phá ra ư nghĩa của Sunnatà,
của Tánh không.
Tôi hi vọng rằng,
các bạn c̣n tại gia sẽ chẳng c̣n quá lo sợ về danh từ và đề mục
Sunnatà, Tánh Không nữa. Hăy bước từng bước để gia tăng sự
hiểu biết và kiến thức về Tánh Không. Đề tài nầy cần có sự
giải thích tế nhị và phức tạp, nên đ̣i hỏi nhiều thời giờ. V́ lẽ
đó, chúng ta chỉ bàn ở đây các cốt lơi của vấn đề, bản chất thật
sự của nó mà thôi, và đấy cũng là đă khá đầy đủ rồi, v́ ư niệm về
Tánh Không chỉ là sự rỗng vắng chẳng có cái Ta, hay
cái ǵ thuộc về Ta. Nếu tâm thức ai nhận chân ra rằng chẳng
có ǵ là tự ngă ( cái Ta) và chẳng có ǵ thuộc về
tự ngă, th́ tâm thức ấy được "rỗng vắng" và tự do. "Thế giới
nầy rỗng vắng" chỉ có nghĩa là như thế đấy.
* * *
Giờ đây, giả tỉ
như có người hỏi, trong Phật học chữ nào là chữ tối thượng, như
hỏi rằng:
08.- "Amatadhamma, Vô sanh pháp, là ǵ?"
"Amata"
có nghĩa là "chẳng hề chết", "bất
tử", "vô sanh" Và "Amatadhamma" là một dhamma, một pháp (sự
vật hay t́nh trạng) chẳng hề bị chết đi. Thế nghĩa là sao? Đức
Phật có nói: "Sự chấm dứt tham, sân, si chính là amatadhamma,
là vô sanh pháp." Vô sanh pháp (vô sanh=bất tử, chẳng hề chết
đi) là một cảnh giới bất diệt, một t́nh trạng chẳng bao giờ bị
tiêu diệt. Bất cứ khi nào c̣n có tham, sân, si, th́ gọi đó
là t́nh trạng khả vong (sẽ bị chết mất). Ta thể nghiệm sự đau khổ.
Ta có ngă kiến (ư kiến về cái Ta), khiến cho ta phải chịu
sự sanh ra, sự già lăo, bịnh tật và sự chết. Khi tham, sân và si
chấm dứt (chấm dứt si mê là hết ngu muội và hiểu biết sai lầm),
th́ ư niệm sai lầm về tự ngă (về cái Ta) chẳng khởi lên ,
th́ làm ǵ c̣n có cái Ta nữa để chết đi. Do đó, nếu muốn đi
t́m một cảnh giới bất tử (chẳng chết), amatadhamma, th́
phải t́m ngay nơi, hay t́nh trạng, hoặc điều kiện, nào mà tham,
sân, si hoàn toàn vắng mặt. Đấy là lời dạy của Đức Phật. Vô
sanh pháp, Amatadhamma, mà ta thường nghe nói đến, là chữ tối
hậu, là lời dạy tối thượng của Phật học.
Các tôn giáo khác
cũng có nói về sự "chẳng hề chết đi" nhưng lại mang ư nghĩa khác
với Phật giáo. "Bất diệt", theo nghĩa amata trong Phật học,
chỉ là sự chấm dứt tham, sân, si.
* * *
Dưới nhiều tên
khác nhau, người ta đă nói đến Pháp (Chơn Lư) cao thượng nhứt,
thâm sâu nhứt. Thí dụ như có người hỏi:
09.- "Pháp nào là Pháp cao thượng và
thâm sâu nhứt để vượt khỏi thế gian và sự chết dưới mọi h́nh thức?"
Đức Phật gọi
Pháp đó là Sunnàtappatisamyuttà, nghĩa là Pháp luận
về Tánh Không (Sunnatà), hay là chính cái Tánh Không ấy.
Pháp nào luận về Tánh Không , đó là Pháp cao thượng nhứt và thâm
sâu nhứt. Pháp ấy vượt cả thế gian, sự chết, và chẳng là ǵ khác
hơn Amatadhamma, t́nh trạng vô sanh, hay bất diệt.
Giờ đây, ta tự hỏi,
Chánh Pháp, theo các thuyết mới nhứt, gần đây nhứt, là những ǵ?
Đức Phật nói: "Một bản Kinh,
bất cứ thuộc loại nào, thuộc cấp bực nào, dầu đă do một thi sĩ hay
nhà hiền triết nào sáng tác, dầu dưới h́nh thức văn vần, hoa lệ,
âm vận du dương đi nữa, cũng chẳng theo đúng Chánh Pháp nếu chẳng
có liên hệ đến Tánh Không."
Xin các bạn hăy nhớ kỹ cho các chữ
quan trọng nầy: "chẳng liên
hệ đến Tánh Không". V́ thế,
nếu một bài Kinh nào chẳng liên hệ đến Tánh Không, th́ đó là lời
nói của một người đệ tử về sau, một sự canh cải, một giáo lư mới,
chớ chẳng phải là lời nói của Đức Như Lai, và do đó, phải được xem
là thấp kém hơn. Nếu đó là lời nói của một vị đệ tử và chẳng bàn
đến Tánh Không, th́ phải xem như ở ngoài Giáo pháp.
Nếu chúng ta muốn
t́m thấy Chánh pháp trung thực với lời dạy nguyên thuỷ của Đức
Phật, chẳng có cách nào khác hơn là t́m xuyên qua các bài giảng về
Tánh Không (Sunnatà, sự rỗng vắng).
* * *
Nếu bạn được một người ngoại quốc
hỏi:
10.- "Trong
Kinh điển, như đă ghi ở Tạng Pali, điểm giáo lư nào được Đức Phật
nhấn mạnh nhiều nhứt?"
Lại một lần nữa, ta hăy dùng lời
của Đức Phật để đáp câu hỏi trên:
"Năm thủ uẩn là vô thường và vô ngă".
Năm thủ uẩn là năm nhóm tập hợp mà một "cá nhơn" được phân tách ra
làm năm phần. Phần thân thể vật chất được gọi là sắc uẩn (rùpa);
nhóm cảm giác, cả vui thích lẫn đau đớn, gọi là thọ uẩn (vedanà);
kư ức và các tri giác gọi chung là tưởng uẩn (sanna);
các tư tưởng hoạt động gọi là hành uẩn (sankhàra); và tâm
thức với khả năng biết được mọi đối tượng qua ngă các giác quan là
thức uẩn (vinnàna). Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và
thức uẩn được gọi là ngũ uẩn (khandas). Năm nhóm tập
họp đó đều vô thường (anicca) và vô ngă (anatta). Đấy chính
là điểm giáo lư đă được Đức Phật nhấn mạnh đến nhiều nhứtr, hơn
tất cả mọi phương diện khác của Giáo pháp. Năm uẩn đó vô thường,
luôn luôn trôi chảy và liên tục biến đổi. Chúng chẳng có tự
ngă, bởi v́ chúng hằng lưu chuyển; chẳng có ai có thể xem
chúng như là Ta, hoặc là của Ta được.
Tôi xin tóm lược lại lần nữa. Hăy
ghi nhớ kỹ: trong tất cả giáo lư, Đức Phật chỉ nhấn mạnh đến điều
nầy: muôn vật đều vô thường,
chẳng có vật chi được xem là Ta, hay của Ta.
* * *
Vấn đề kế tiếp mà chúng ta sẽ cứu
xét là:
11.- "Đức Phật
dạy ta phải tin điều ǵ và tin ai?"
Nếu bạn được hỏi như trên, trh́
hăy trả lời với lời dạy của Đức Phật trong bản Kinh Kalama:
chúng ta chỉ phải tin vào những ǵ chính chúng ta thấy rơ ràng.
Vấn đề ngay đây là rất cần thiết phải hiểu rành từ ngữ "thấy rơ
ràng" là như thế nào. Nó có nghĩa là thấy rơ mà chẳng
cần đến lư luận, dự ước hay phỏng đoán. Phải thấy rơ ràng như mắt
đang nh́n tay cầm lấy một vật, rồi làm như vầy th́ thấy kết quả ra
như thế ấy. Thấy rơ là như thế, chẳng cần chi đến lư luận
hay giả thiết mới hiểu. Trong Phật học, chúng ta được dạy, chẳng
nên tin ai, chẳng nên tin điều ǵ, mà c̣n chưa chính ta thấy rơ
rằng sự thật là như thế.
Các vấn đề sau đây giúp ta hiểu rơ
thêm về ư nghĩa nêu trên. Tại sao chúng ta lại bị cảnh cáo là
chẳng được nên tin vào
Tam Tạng Kinh Điển (Tipitaka,
ba tạng Kinh, Luật, Luận của Phật giáo), chẳng được tin vào vị
sư phụ nào, chẳng được tin vào lời đồn đăi hay báo cáo, chẳng được
tin vào những ǵ đă do lư luận, hay biện luận mà ra? Các nguyên
tắc đó giúp vào chánh kiến (sự hiểu biết đứng đắn), bởi v́
mọi sự nhẹ dạ tin một cách mù quáng đều là ngu dại. Giả dụ như
chúng ta mở Tam Tạng Kinh Điển ra và đọc một đoạn nào, rồi th́
liền tin theo mà chẳng suy nghĩ, chẳng trắc nghiệm lại, chẳng chút
phê phán xét đoán. Đó là một sự tin tưởng khờ dại vào Tam Tạng
Kinh Điển, điều mà Đức Phật khiển trách.Tin lời thầy nói mà c̣n
chưa chính mắt ḿnh thấy, chính tai ḿnh nghe điều thầy nói có
đúng như sự thật không, đó là ư nghĩa của lời cảnh cáo "khi tin
vào vị sư phụ nào". Đối với các lời đồn đăi, các báo cáo, lại cũng
như vậy. "Tin vào những ǵ đă do đường lối biện luận mà suy ra" có
nghĩa là, v́ đă học qua và có kinh nghiệm về cách lập luận, ta
thường đi đến kết luận là một mệnh đề nào đó , đúng theo luận lư
học, th́ phải xảy ra như thế; nhưng điều biện luận nầy xét ra vẫn
c̣n chưa đủ đúng đắn, ta chẳng nên đặt tin tưởng vào lối biện luận
như vậy.
Tuy nhiên ta nên cẩn thận để ư kỹ
lưỡng rằng lời dạy trong Kinh Kalama chẳng hề cấm đoán ta đọc Tam
Tạng Kinh Điển. Cũng như điều ấy chẳng cấm việc thưa hỏi các vị
thầy, hoặc đọc các báo cáo, nghe lời đồn, hay là dùng phương pháp
luận lư học. Trái lại, chúng ta có thể đọc, nghe, thưa hỏi, nhưng
chẳng nên ngây thơ chấp nhận ngay, trừ phi chúng ta đă suy nghĩ kỹ
trước, kế dến cứu xét cẩn thận, đào sâu tận rễ, quán sát mọi khía
cạnh, và sau hết, chính
chúng ta đang thấy rơ ràng
sự thật là như thế.
Hăy lấy một thí dụ, Đức Phật dạy
rằng, tham, sân, si, là nguyên nhơn gây ra đau khổ. Nếu chúng ta
c̣n chưa bết rơ thế nào là tham, sân, si, th́ chúng ta chẳng cách
nào tin vào lời dạy đó, và cũng chẳng cần tin làm chi v́ nếu cứ
tin như thế, đó chỉ là nhẹ dạ mà tin. Nhưng nếu chính chúng ta đă
có kinh nghiệm và biết tham là như thế nào, sân, si ra làm sao, và
khi ba điều nầy khởi lên trong tâm chúng ta, chúng gây ra đau khổ
tựa hồ như có ngọn lửa đang nung nấu chúng ta; bấy giờ chúng ta
mới tin lời dạy trên, căn cứ trên kinh nghiệm bản thân của chúng
ta.
Thế nên, lời Đức Phật dạy về ḷng
tin ghi trong Tam Tạng Kinh Điển là như sau đây. Đọc hay nghe được
một điều ǵ xong, ta nên ḍ xét cho đến khi chúng ta thấy rơ
ràng điều ấy. Bằng c̣n chưa thấy được rơ ràng, th́ ta nên dùng
lư luận rồi hăy để đó một thời gian xem sao. Và để bắt đầu, chúng
ta sẽ tin tưởng và khởi công chỉ thực tập những ǵ chúng ta đă
thấy rơ ràng sự thật là như thế ấy. Rồi lần lần, chúng ta sẽ
tin tưởng thêm và lại càng thấy rơ ràng hơn lên. Đấy là lời
khuyên rất b́nh dân của Đức Phật. Nếu có người ngoại quốc hỏi bạn
về ḷng tin, bạn hăy nên giải thích cho đúng đắn bằng không, bạn
sẽ tŕnh bày sai lời Phật dạy, vô t́nh phản lại Đức Phật. Chẳng
tin ở Kinh Điển, chẳng tin vào sư phụ, chẳng tin lời báo cáo hay
tin đồn, chẳng tin theo lập luận của luận lư học, các điều nầy cón
có ư nghĩa ẩn kín mà ta phải cố t́m cho ra. Nhẹ dạ mà tin ngay là
điên cuồng. Đức Phật kết án việc ấy rất nặng nề; Ngài dạy, trước
khi đặt niềm tin vào đâu, hăy trắc nghiệm nó cho đến khi nào
thấy nó thật rơ ràng rồi mới tin, (...)
Chánh sách của Phật giáo về ḷng
tin là: chẳng tin tưởng một cách ngây thơ, chẳng tin cậy vào kẻ
khác, vào sách giáo khoa, giả thuyết, lập luận hay bất cứ điều ǵ
mà đa số người đang tin, và chỉ tín nhiệm vào những ǵ
chính ḿnh đă thấy rơ ràng sự thật là
như thế. Người Phật tử
chúng ta phải theo chánh sách đó.
* * *
Câu hỏi kế tiếp là:
12.- "Tâm thức
của người thường và người Phật tử khác nhau như thế nào?"
Giờ đây chúng ta sẽ cứu xét vấn đề
khác biệt hơn kém giữa hai tâm trạng: Tâm trí của người thường và
tâm trí của một người Phật tử "đúng danh hiệu". "Người thường" ở
đây có nghĩa là người chưa thông hiểu và chưa hề tu tập theo đường
lối của Phật giáo chánh hiệu. Một người thường, quá lắm cũng chỉ
đáng được "gọi là Phật tử", v́ có cha mẹ theo đạo Phật, v́ theo
trong bộ sổ khai sanh hay lư lịch. Nói cách khác, y chưa hề tu
theo đạo Phật, chỉ là người trong thế tục. C̣n muốn trở thành một
người Phật tử "chánh hiệu", muốn làm một bực Thánh (Ariya,
bực tu hành cao, đă đi rất xa trên đường tu học), ta phải thoả măn
các đ̣i hỏi về sự hiểu biết đúng đắn (chánh kiến) về các
điều chung quanh ta, vào một tŕnh độ cao hơn "người thường".
Đức Phật có nói, giữa cái nh́n của
bực Thánh và cái nh́n của người thường, có một hố cách vĩ đại. Như
thế, dưới mắt của bực Thánh, và trong giới luật của bực nầy, ca
hát cũng là một việc như than khóc; khiêu vũ là múa may điên rồ
của người khùng; c̣n cười hô hố là thái độ ấu trĩ của trẻ con.
Người thường cũng ca hát, cũng cười hô hố, để hưởng vui mà chẳng
để ư đến khi họ thấm mệt. Trong giới luật của bực Thánh, ca hát bị
xem như đang khóc lóc. Ta thử nh́n vào một người đang ca hát, y cố
gân cổ lên để hét to, đó chẳng giống như đang khóc sao; hơn thế,
nó trào ngược ra từ xúc động t́nh cảm, nào có khác ǵ khóc. Khiêu
vũ giống như kẻ điên quay cuồng; hăy cứ tự quan sát th́ thấy, khi
chúng ta đứng lên sàn nhảy, nếu chẳng điên đến mười phần trăm th́
làm sao lại nhún nhảy lên như thế? Nhưng mà đa số đều nghĩ đấy là
cuộc vui giải trí, cho nên chúng ta chẳng nhận thấy bộ dạng của
người mất trí. Vài người thích cười to, v́ phát lên tiếng cười là
có điều thích ư. Nhưng bực thánh giả lại xem đó là thái độ ấu trĩ
của trẻ con,(...) tốt hơn là nên ít cười ha hả. (...)
Đức Phật cũng chẳng cấm đoán chúng
ta làm những việc trên, khi chúng ta thích muốn làm; nhưng Ngài
muốn ta hiểu rằng, c̣n có thái độ cao, có cử chỉ thấp, và chẳng
nên có những hành động chẳng cần thiết. Khi chúng ta c̣n chưa là
bực Thánh, có thể chúng ta muốn thử làm chơi vài cử chỉ thấp kém
đó. Nếu làm thử một đôi lần, chúng ta thấy chúng lúc đầu có chút
thích thú, nhưng về sau, ta sẽ chán ngấy chúng đi. Và như thế,
chúng ta có thể vươn lên đến gần hàng thánh thiện.
Vài người chẳng ưa nghe nói đến kỷ
luật, bàn đến giới luật. Họ ngại rằng sự kềm chế sẽ đưa đến đau
khổ (dukkha). Tuy nhiên, tập tự kiềm thúc để chẳng buông
trôi theo tính khí (thay đổi thất thường) là một nguyên tắc quan
trọng trong Phật học. Thúc liễm thân tâm để khỏi chiều theo sự
thay đổi tính khí như thế, đâu phải là đau khổ. Trái lại, đó chính
là phương cách để chiến thắng được đau khổ. Ta phải nên tránh khỏi
sự đè nén của các ư tưởng vị kỷ hay ô nhiễm. Ta phải nên quyết tâm
chẳng để cho các điều ô nhiễm cám dỗ, thúc dục và ngự trị chúng ta.
Hăy nh́n vào các cặp khiêu vũ, và xem các ô nhiễm đang kích thích
ra sao, áp đảo, chế phục như thế nào; gọi đó là tự do sao?
Hoá cho nên, chúng ta phải t́m
cách cải thiện qui chế của chúng ta phần nào. Đừng măi măi là "người
thường"! Hăy ghi tên xin gia nhập vào "làng" của Phật, tức là có
kiến thức, trí huệ, tỉnh thức và chánh kiến, để khiến cho sự đau
khổ phải giảm dần đi. Tránh làm các điều chẳng cần thiết, chỉ
khiến thêm bất lợi và khó nhọc cho chúng ta. Đấy chính là phần
thưởng mà bạn sẽ gặt hái được; bạn sẽ bước từ cấp thường nhơn lên
hàng Phật tử chơn chánh, rồi đến bực Thánh, an trú trong giới luật
của hạng nầy.Đức Phật thường hy vọng rằng sẽ có thật nhiều bực
thánh giả trong hàng các người chẳng muốn măi măi làm người phàm
tục.
* * *
Ngay đây, tôi xin bàn đến Con
đường Đạo. Nếu có ai hỏi bạn:
13.- "Tu tập
thế nào là theo con đường thông thường và tu cách nào là theo con
đường ngắn và nhanh nhứt?"
Bạn có thể trả lời, con đường
thông thường là Bát Chánh Đạo -- có lẽ bạn đă được nghe
nhiều lần rồi -- gồm có:
Chánh kiến, Chánh tư duy. Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp,
Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
Tám ngành của con đường đó được khéo
sắp xếp, có thể qui về ba nhóm:
giới, định, và huệ.
Chúng hợp thành một đại hệ thống về
tu tập, được chúng tôi xem như là con đường tu tập theo lối thông
thường. Nó dành cho những ai c̣n chưa theo được con đường ngắn và
nhanh. Con đường thường nầy chẳng phải là con đường sai lầm, nó
thật là đúng đắn; tuy nhiên, đi theo nó, phải mất nhiều thời gian.
Đức Phật cũng có chỉ dạy một con
đường tắt. Ngài bảo, khi chúng ta chẳng chụp nắm và bám níu vào
sáu căn (àyatanas, các giác quan) cùng vào các đối tượng
liên hệ với chúng, để xem như là tự ngă, th́ con đường Bát
Chánh Đạo sẽ tự nó mà tự động khởi lên, dưới đầy đủ tám phương
diện. Đây là một nguyên tắc Giáo Pháp quan trọng và căn bản nhứt.
Trước nhứt, ta nên nhớ lại: sáu
căn (àyatanas)
là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm
thức. Mỗi căn có năm phương diện. Như về mắt, phương diện thứ nhứt
là chính con mắt; thứ hai là h́nh sắc của vật đang có sự tiếp cận
với mắt; thứ ba là thức (vinnana) có khả năng làm cho ta
nhận thấy được vật đối tượng; thứ tư là tác động của sự xúc chạm (phassa)
xảy ra giữa nhăn thức, con mắt và vật đối tượng; và thứ năm là cảm
giác (vedanà), vui thích hoặc đau đớn có thể khởi sanh lên
như kết quả của sự tiếp cận. Đó là năm phương diện của nhăn căn.
C̣n tai, mũi, v.v... mỗi căn cũng có năm phương diện như vậy.
Mỗi phương diện có tác dụng làm ta
trở nên thiếu tỉnh giác và khiến ta có chụp bắt nó (một phương
diện) rồi xem đó như là "Ta". Như thế, chúng ta đă chụp bắt
nhăn thức (phương diện thứ ba) làm "Ta", v́ nó đă
khiến "Ta", qua đôi mắt, đă thấy và biết về vật đôi tượng.
Bởi v́ chúng ta đă hay biết đến vật đối tượng ấy, nên chúng ta
liền vội kết luận ngay là phải có cái "Ta" để làm cái công
việc thấy biết đó. Cũng theo lối giống như vậy, chúng ta chụp bắt
và bám níu vào mắt và sự tiếp cận (phương diện thứ tư) làm
cái "Ta" để thấy được, hoặc bám níu vào tương quan giữa ba
yếu tố: mắt - tiếp cận - cảm giác (phương diện thứ năm) làm
cái "Ta" để biết có được cảm giác vui thích hay đau đớn.
Đôi khi một âm thanh du dương đến
bên tai, chúng ta liền nắm bắt cái nghe biết có âm điệu ấy làm cái
"Ta" đang nghe. Đôi khi một vị khoái khẩu đến với lưỡi,
chúng ta liền bám níu vào sự nếm biết khẩu vị đó làm cái "Ta"
đang thưởng thức món ăn.
Mỗi căn có năm phương diện, tính
tổng cộng lại là ba mươi tất cả. Mỗi phương diện đó đều có thể bị
chụp nắm lấy làm cái Ta và bám níu măi vào một cách hết sức
dễ dàng, biết bao nhiêu lần trong một ngày. Vừa chụp bắt và bám
níu đó, tức th́ đau khổ liền nổi lên ngay. Chúng ta đă lầm lỡ và
tự đảy ḿnh sa vào cái khối đau khổ chằng chịt. Đấy chẳng phải là
đang đi theo con đường đạo. Tuy nhiên, Đức Phật chỉ dạy chúng ta
chớ có chụp bắt và bám níu vào sáu căn cùng các đối tượng liên hệ
với chúng. Nhờ luôn luôn canh pḥng, chúng ta sẽ chẳng xem bất cứ
căn nào, đối tượng nào, làm cái Ta cả, và tức th́ con đường
Bát Chánh Đạo liền hiện lên rơ với chúng ta, chính ngay vào cùng
lúc ấy. Ngay trong lúc (chẳng bám níu) đó, liền hiển hiện lên
chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm và
chánh định. Thực tập được
sự chẳng bám níu vào sáu căn khiến cho con đường Bát Chánh Đạo
đồng thời hiện khởi lên ngay tức khắc. Đức Phật xem đó là
con đường tắt.
Trong một bản Kinh, Đức Phật có
dạy con đường tắt: sự rỗng vắng. Chẳng bám níu vào mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và tâm thức làm cái Ta, sẽ khiến cho
con đường Bát Chánh Đạo khởi lên ngay lúc đó , một cách trọn vẹn.
Nếu chúng ta chẳng quyết định chọn
con đường tắt,
th́ chúng ta nên học tập kỹ lưỡng Con
đường Bát Chánh Đạo về giới, định, và huệ vậy.Từ từ tu tập từng
bước một, khởi đầu, rồi lần lần tiến xa qua các giai đoạn, như thế
ắt phải tốn nhiều thời gian hơn.
Trong Phật học, chúng ta t́m thấy
được một con đường thông thường (là Bát Chánh Đạo) và một con
đường thẳng tắt (là nhiếp phục các căn, chẳng chụp nắm và bám níu.)
* * *
Giờ đây, tôi sẽ bàn về Nghiệp
lực trong đạo Phật, bằng cách đặt ra câu hỏi nầy:
14.- "Nghiệp
lực có vai tṛ nào trong Phật học?"
Nhiều người Tây phương viết sách
về Phật giáo, có vẻ rất hănh diện về các Chương bàn về Nghiệp
lực (Pali: kamma; Sanskrit: Karma), và Tái
sanh. Nhưng những lời giải thích của họ đều sai lầm, hoàn toàn
sai lầm! Các người Tây phương đó tuyên bố đă giải nghĩa chữ
Kamma, Nghiệp lực, nhưng tất cả những ǵ họ viết cũng chỉ là,
"thiện nghiệp là tốt lành, ác nghiệp th́ dữ ác"; "Làm điều lành,
được việc tốt; làm việc ác, chịu điều xấu", cũng chẳng có ǵ thêm
hơn, giống y như giáo lư của các tôn giáo khác. Đấy chẳng phải là
Nghiệp lực, Kamma, được giảng dạy trong Phật học.
Đối với Tái sanh, cũng vậy. Họ
tuyên bố rất mạnh mẽ, làm như chính mắt họ trông thấy rơ ràng
chính các cá nhơn nầy đang tái sanh lại. Họ tŕnh bày rất sai lầm
bức thông điệp chánh yếu của Đức Phật đă dạy rằng chẳng có sự hiện
hữu của "cá nhơn", hoặc của "Tự ngă" (cái Ta). Mặc dầu "Tôi" đang
ngồi đây, nhưng chẳng có cá nhơn nào ở đây cả. Khi đă chẳng có cá
nhơn nào, th́ lấy ai để mà chết? Rồi có ai đâu để tái sanh? Đức
Phật giảng dạy sự bất hiện hữu của "cá nhơn", của "con
người". Như thế, sanh và chết là những chơn lư tương đối. Tác giả
các quyển sách nhan đề là "Phật giáo" đó thường giải thích
Nghiệp lực, và Tái sanh hoàn toàn sai lầm.
Xin các bạn hăy lưu tâm cẩn thận
về vấn đề Nghiệp lực. Một bản trần thuật của Phật học cần
phải tŕnh bày đầy đủ về sự chấm dứr của Nghiệp lực, chớ chẳng
phải chỉ có Nghiệp lực và các hậu quả của nó -- như đă t́m
thấy trong mọi tôn giáo. Chỉ đáng đượcv gọi là giáo lư nhà Phật,
khi có sự tŕnh bày về việc chấm dứt
Nghiệp lực.
Kẻ đă đạt dến sự chấm dứt hoàn
toàn Nghiệp lực, tiếng Pali gọi là sabbakammakkhayam
patto (sabba = hoàn toàn; kamma = nghiệp; khaya =
chấm dứt, tận diệt; patti = chứng đắc, đạt đến). Đức
Phật đă dạy rằng, nghiệp lực chấm dứt với sự tận diệt của
tham (ràga), sân (dosa) và si (moha). Điều nầy thật
dễ nhớ. Nghiệp lực chấm dứt khi tham, sân, si chấm dứt hoàn
tioàn, nghĩa là, khi các lậu hoặc (cấu nhiễm về tinh thần, hay các
lỗi lầm ô uế bên trong tâm) đă dẹp dứt xong hết. Nếu tham, sân, si
c̣n chưa chấm dứt, th́ nghiệp lực vẫn chưa chấm dứt. Khi
tham, sân, si đă chấm dứt, th́ nghiệp cũ cũng chấm dứt,
nghiệp hiện nay chẳng được tạo thành, và chẳng có nghiệp
tương lai mới nào được tạo nữa -- như thế, nghiệp quá khứ,
hiện tại và tương lai phải chấm dứt. Khi một ngựi đă chấm dứt
được tham, sân, và si, th́ nghiệp lực chẳng c̣n nữa. Đấy là
lối giải thích cần phải được giảng dạy.
Chỉ một bản tường tŕnh về
nghiệp lực như thế mới đáng được gọi là của Phật học.
Như thế, chúng ta thấy c̣n có một
loại nghiệp lực thứ ba. Phần đông người ta chỉ biết có hai
loại nghiệp lực, loại thứ nhứt là thiện nghiệp hay nghiệp
lành, loại thứ hai là ác nghiệp hay nghiệp dữ. Họ c̣n chưa
biết đến loại nghiệp lực thứ ba. Đức Phật gọi loại thứ nhứt
là bạch nghiệp hay thiện nghiệp, tức là nghiệp trắng,
tốt lành; loại thứ hai là hắc nghiệp hay ác nghiệp,
tức là nghiệp đen, dữ ác. Loại thứ ba có thể gọi là
chẳng trắng chẳng đen
nhằm chấm dứt cả hai loại nghiệp
trắng và nghiệp đen. Chính Đức Phật đă dùng các tiếng bạch
nghiệp, hắc nghiệp và bất hắc bất bạch nghiệp. Loại thứ ba nầy
mới thật là nghiệp lực đúng theo nghĩa của Phật học. Như đă
nói qua, hễ chấm dứt tham, sân, si là chấm dứt ngay được nghiệp
lực. Nói cách khác, loại nghiệp lực thứ ba nầy, chính
là con đường Bát Chánh Đạo; nó chẳng trắng, chẳng đen, nó chỉ
riêng mang lại sự chấm dứt vừa bạch nghiệp,vừa hắc nghiệp. Con
đường đó là con đường vượt cơi thế gian (tokuttara, siêu thế),
vượt lên cả điều thiện lẫn điều ác.
Loại nghiệp lực thứ ba nầy
chẳng hề được các người Tây phương bàn đến trong các Chương sách
của họ về "Nghiệp lực và Tái sanh". Lời dẫn giải của họ đều
sai lầm cả, nên chẳng phải là Phật học. (...)
Giờ đây,xin nói thêm vài điều về
loại thứ ba của Nghiệp lực. Về điểm nầy, Đức Phật có nói: "Như
Lai đă đạt đến sự hiểu biết rơ ràng về điều nầy, nghiệp lực,
xuyên qua trí huệ cao cả của chính Như Lai." Bậc Đại Giác (Đức
Phật) đă chẳng hề vay mượn của ai, hay của tín ngưỡng hoặc của tôn
giáo nào, Ngài đă biết được với trí huệ của chính Ngài và chỉ dạy
lại cho mọi người. (...) Các bạn nên chú trọng đến vấn đề và
nghiên cứu nó cho cẩn thận, Nghiệp lành, nghiệp ác đều được nói
đến ở mọi tôn giáo, (...) làm lành là điều tốt, làm ác là việc dữ,
họ đều dạy giống nhau như thế. Nhưng Đức Phật bảo rằng, chỉ riêng
tạo nghiệp lành th́ cũng chẳng dập tắt được hẳn các đau khổ về
tinh thần, một cáh hoàn toàn và tuyệt đối, bởi v́ ta có thể say
đắm rồi bám chặt vào thiện nghiệp. Nói cách khác, thiện
nghiệp vẫn c̣n đưa đẩy con người vào trong ṿng sanh và chết
của Luân hồi, dầu là sẽ được sanh vào các cảnh gới an lành. Nó
chưa phải hẳn là sự tận diệt, sự thanh lương của
Niết bàn (Nibbàna).
Vậy th́, về Nghiệp lực, chỉ
riêng có Đức Phật mới thuyết giảng đầy đủ về vai tṛ của loại thứ
ba là chấm dứt các lậu hoặc tham, sân, si. Chính xuyên qua loại
Nghiệp lực nầy mà bực tu hành mới chứng đắc quả vị
Niết bàn (Nibbàna).
-ooOoo-
-
Phần 2 -
Bây giờ tôi muốn
lưu ư các bạn đến một vấn đề mà tôi nghĩ có lẽ các bạn sẽ quan tâm
nhiều. Câu hỏi nêu ra như sau:
15.- "Có cần phải nghe chính Đức Phật giảng Pháp mới có thể
chấm dứt
đau khổ chăng?"
Có vài người quả
quyết rằng ta cần phải được nghe Chánh Pháp từ nơi chính Đức Phật
thuyết giảng, th́ bấy giờ mới có thể thật sự hiểu rơ được. Nhưng
ngay Đức Phật cũng có nói, nhiều người, mặc dầu chẳng được nghe
Chánh Pháp do Ngài thuyết giảng, vẫn có đủ sức để đi theo con
đường chánh đạo. Cũng có nhiều người, dầu chẳng được nghe Pháp từ
nơi Đức Phật, nhưng qua sự quán sát bền bỉ và thực tập miên mật,
vẫn có thể dấn bước lên con đường chánh đạo.
Thế nên, chúng ta
nên chắp tay ngưỡng mộ sự thành thật của Đức Phật đă chẳng xem
Chánh Pháp là sở hữu độc quyền của ḿnh, và chẳng hề tự xem ḿnh
là cần thiết.
* * *
16.- "Làm cách nào để
giải quyết khi nghi rằng một giáo lư chẳng phải do Đức Phật dạy?"
Đức Phật có đặt ra
một nguyên tắc để trắc nghiệm: cứu xét và đối chiếu với Kinh
Tạng (Suttas, các bản Kinh) và Luật Tạng (Vinaya,
các giới luật). Nguyên tắc là chẳng được tin tưởng ngay vào
điều ǵ chỉ được sao lại (second hand) và chẳng được đặt niềm tin
vào kẻ nào xem như đă có đủ thẩm quyền. Nếu có sự nghi ngờ về lời
tuyên bố của một người nào xác định chính y đă nghe nói từ nơi Đức
Phật, hoặc từ một nhóm Trưởng lăo thông thái, liên quan tới việc
đưa đến sự chấm dứt đau khổ, th́ Đức Phật bảo rằng cần phải trắc
nghiệm điều ấy theo hai cách:
1.- Cứu xét
và đối chiếu với Kinh Tạng. Các bộ Kinh là một hệ thống sắp
xếp tất cả các loại bài pháp lập thành một đường hướng phân minh.
Nếu một lời phát biểu nào chẳng theo đúng đường hướng đó th́
phải được gạt bỏ đi.
2.- Đối chiếu
với Luật Tạng. Các Giới luật là khuôn mẫu, tiêu chuẩn, một
hệ thống cố định. Nếu lời phát biểu đang được cứu xét chẳng phù
hợp với hệ thống đó, nếu nó chẳng tuân theo các giới luật, th́
phải gạt bỏ đi.
Đừng quá tin cậy
vào một vị tỳ kheo nào, một thành phần nào của Tăng già, một nhóm
Trưởng lăo, một tập đoàn các nhà thông thái, hay các tu sĩ cá nhơn,
thường hay xác định là họ đă nghe điều nầy, điều nọ từ nơi Đức
Phật. Đức Phật luôn luôn đ̣i hỏi chúng ta trước hết mọi việc, phải
khởi lên sự nghi ngờ và bắt đầu điều tra. Rồi đối chiếu lại với
Kinh Tạng, xem có thích nghi không; đối chiếu với Luật Tạng, xem
có phù hợp không?
Nguyên tắc trên
đây nếu được khéo xử dụng măi, sẽ là một phương kế để giữ vững
Phật Đạo chẳng bị bóp méo và bị làm mù mờ đi, dầu cho nền Phật học
có thể kéo dài hai ngàn năm, ba, bốn, ... chín, mười ngàn năm về
sau. Nguyên tắc ấy được gọi là Đại Tiêu Chuẩn (...). Tuy nhiên,
trong việc đối chiếu, Đức Phật không nói đến Luận Tạng (Tạng Diệu
Pháp), tạng thứ ba của Tam Tạng Kinh Điển Pali.
* * *
Giờ đây, chúng ta
bàn đến "dân chúng", để có cái nh́n kỹ hơn về chính chúng ta.
17.- "Đức Phật đă phê
phán dân chúng qua các thời đại như thế nào?"
Trong một bản Kinh,
Đức Phật đă khiển trách "chúng ta ngày nay", có nghĩa là, kể từ
thời Đức Phật cho đến ngày nay, mỗi thế hệ mới "cứ lo thọ hưởng
các thú vui chẳng chánh đáng, lại quá tham lam và hay nghiêng về
các giáo lư tà đạo." Họ thích thú đi t́m cho ḿnh các sự kích
thích chẳng đúng đắn, nói cách khác, họ quá hướng ngă (chỉ nghĩ
đến chính ḿnh). Họ hoàn toàn thiếu sự tỉnh giác, và như thế sự
tham luyến của họ rất mănh liệt và thái quá. Họ rơi vào các giáo
lư tà ngụy, bởi v́ họ đă lọt hoàn toàn vào ṿng thế lực của các
lậu hoặc (ô nhiễm tinh thần).
Lời tuyên bố của
Đức Phật đă có hơn hai ngàn năm, tuy nhiên Ngài đă dùng từ ngữ "dân
chúng các thời đại sau", khoảng thời gian kể từ khi Ngài có lời
phán xét đó cho chí đến ngày nay. Ở đây, chúng ta có bổn phận phải
nh́n lại chính chúng ta ngay trong hiện tại. Dân chúng trên thế
giới ngày nay có quá thích thú đi t́m các lạc thú chẳng chánh đáng,
quá ích kỷ, và nghiêng về các tà thuyết hay không? Rơ ràng, dân
chúng thời nay khác xa với dân chúng vào thời Đức Phật. Tuy nhiên,
nếu ngày nay họ muốn sống đúng theo mẫu mực của Đức Phật đă đưa ra,
th́ tuy vẫn t́m thấy thích thú trong màu sắc, h́nh dạng, âm thanh,
hương, vị và các khích động xúc giác, họ vẫn có thể sống như thế
mà vẫn hằng giữ sự tỉnh giác và chánh tri kiến, và chẳng để cho
ḷng tham luyến trở nên thái quá. Điều nầy có nghĩa là, họ chẳng
muốn có được màu sắc, h́nh dạng, âm thanh, mùi, vị, và kích thích
xúc giác một cách nhiều hơn mức cần thiết, chẳng được có đến quá
mức. Chỉ riêng danh từ "thái quá" nầy, tức là hơn mức cần thiết,
cũng đă nói lên đầy đủ ư nghĩa của các nguyên nhơn gây nên sự xáo
trộn, khó khăn và biến động trên thế giới ngày nay.
Tôi có được đọc và
biết, theo Thiên chúa giáo, khi muốn lấy quá hơn sự cần thiết, đó
là một "tội". Theo tiêu chuẩn trong Thiên chúa giáo, ngựi nào lấy
nhiều hơn sự cần thiết cho ḿnh là một người có tội. Tuy nhiên
phải chăng ngày nay chúng vẫn chưa cho là ḿnh có tội, bởi v́
chúng ta chẳng quan tâm (đến tội phước) hay bởi v́ chúng ta thật
xem ḿnh như c̣n chưa đi quá mức? Phải chăng chúng ta nghĩ rằng
chúng ta đă có điều ǵ quá mức đâu? Về vấn đề nầy, chỉ có thể bàn
luận với những người thành thật với chính ḿnh.
Trong một quyển
sách ngụ ngôn rất hay của Tây tạng, (ta đọc thấy) các loài chim tu
tập lại với nhau, và bàn luận về cách nào thực hành Chánh pháp để
mang lại hạnh phước. Mỗi loài phát biểu ư kiến, rồi chúng cùng
đồng ư rằng: "Chúng ta sẽ chẳng t́m kiếm vật thực một cách quá mức
cần thiết. Đó là tối hậu." Sau cùng, tất cả được yêu cầu đừng đi
kiếm ăn quá mức ḿnh cần. Câu chuyện chấm dứt ở đó.
Ai ai cũng nên
nghĩ rằng, t́m cầu cho được nhiều hơn mức ḿnh cần dùng, chính là
nguồn gốc của sự đau đớn và thống khổ, nguyên nhơn tạo nên các rối
loạn cho cá nhơn và xă hội. Nên suy nghĩ kỹ về điều đó! Ngă theo
các tà thuyết có nghĩa là dầu biết rơ một điều nào đó rất sai lầm,
mà vẫn cứ muốn điều đó chẳng chút lo ngại hoặc hổ thẹn, bởi v́ các
lậu hoặc (cấu nhiễm tinh thần) đang tràn ngập và áp đảo. Kẻ nào
quá thâm nhiễm theo lối suy tư như thế th́ thật là chẳng chút
thích hợp với Chánh pháp.
Vậy, nếu ta muốn
vượt khỏi khổ đau, chúng ta phải quay về với Chánh pháp.
* * *
Chúng ta sẽ nói về
Đức Phật, và đặt câu hỏi nầy:
18.- "Đức Phật kính
lễ những ai?"
Chính Đức Phật có
nói: "Như Lai kính lễ Chánh pháp và kính lễ Cộng đồng Tăng già có
đầy đủ các đức tánh gương mẫu." Một cộng đồng Tăng già với các tu
sĩ cư xử tốt và tu tập tinh tấn được gọi là Cộng đồng có đầy đủ
đức tánh gương mẫu. (...) Chúng ta nên suy gẫm về điều chính Đức
Phật cũng kính ngưỡng Chánh pháp và tôn trọng kính lễ các tập đoàn
tỳ kheo giữ ǵn giới hạnh vẹn toàn.
Điểm nầy ngày nay
có thể áp dụng vào xă hội Thái lan của chúng ta, cũng như trên
toàn thể thế giới. Kính Pháp, trọng Tăng là điều mà hiện nay chúng
ta nên làm theo đúng.
* * *
19.- "T́m thấy Phật ở
nơi nào?"
Đức Phật có nói: "Kẻ
nào nh́n thấy Chánh pháp, kẻ ấy thấy được Như Lai. Kẻ nào chẳng
nhận thấy Chánh pháp th́ c̣n chưa thấy được Như Lai. Bất cứ ai c̣n
chưa thấy Chánh pháp mà dầu có nắm áo của Như Lai và giữ lấy chặt,
cũng chẳng thể nào thấy được Như Lai." Như Lai (Tathàgata)
là danh hiệu mà Đức Phật thường tự xưng.
Lời nói trên có
nghĩa là, Đức Phật chẳng có thể t́m thấy ra được ở ngoài tấm thân
vật chất. Hay đúng hơn, chỉ t́m thấy Đức Phật ở đức tánh cao qúi
nơi tâm của Phật, c̣n được gọi là Chánh pháp. Đó là phần (thân thể)
cần được nhận thấy ra trước khi t́m thấy được Đức Phật.
Mỗi khi chúng ta
qùi lạy trước tượng Phật, tâm chúng ta trú vào h́nh tượng, rồi
vượt qua đó thấy được thân tướng của Đức Phật mà h́nh tượng đang
phô diễn. Kế đến, chúng ta nh́n vượt qua thân tướng đó, để đi sâu
vào tâm Phật, cho đến khi nào chúng ta thấm vào các đức tánh cao
qúi nơi Phật tâm. Chúng ta nhận ra các đức tánh ấy như là Chánh
pháp thật trong suốt, chói lọi, hiền hoà, chẳng gợn chút chấp thủ
nào, hoàn toàn giải thoát. Và như thế, ta có thể nói là đang t́m
thấy được Đức Phật.
* * *
20.- "Đức Phật có
hiện hữu vào giờ phút nầy không?"
Nếu được hỏi như
trên, chúng ta có thể viện dẫn chính lời Đức Phật nói với Ngài A
nan: "Nầy A nan, Chánh pháp và Giới luật mà Như Lai giảng dạy và
minh chứng, hăy lấy đó làm Thầy của ông, khi Như Lai qua đời."
Ngày nay chúng
đang học tập Chánh pháp và tuân hành Giới luật, thừa hưởng lợi lạc
do Chánh pháp và Giới luật mang lại. Như thế th́ vị Thầy, bực Đại
Đạo Sư, vẫn c̣n hiện hữu đó.
Bài Kệ trên đây
rất được nhiều người biết đến, v́ được Đức Phật thốt lên ngay vào
lúc Ngài sắp qua đời. Vậy, các bạn nên ghi nhớ kỹ, bài Kệ đó dạy
ta rằng Đức Thầy vẫn c̣n hiện hữu.
* * *
21.- "Đức Phật có
chấm dứt xong Nghiệp lực của Ngài hay không?"
Nếu được hỏi như
vậy, chúng ta phải dè dặt đừng làm giảm thanh giá của Đức Phật
bằng các câu trả lời bất cẩn và liều lĩnh. Thật ra, chúng ta chẳng
thể nào hạ thấp nổi Đức Phật, nhưng lời nói của chúng ta có thể vô
t́nh xem nhẹ giá trị của Ngài.
Đức Phật chắc chắn
đă chấm dứt nghiệp lực của ḿnh, bởi v́ Ngài đă tận diệt tất cả
các lậu hoặc, như đúng theo nghĩa của chữ "dứt hết nghiệp lực".
Ngài đă siêu thoát hết tất cả các loại nghiệp lực, và chính
việc nầy đă khiến danh tiếng Ngài lừng vang. Bực hiền giả Gotama (Đức
Phật) đă trở thành vị
nghiệp tận đắc giả (sabbakammakkhayam patto)(sabba=trọn
vẹn;kamma=nghiệp lực; khaya=tiêu diệt;patto=chứng
đắc), tức là một vị đă thành công trong việc chấm dứt hoàn
toàn mọi nghiệp lực của ḿnh. Tin tức về biến cố nầy được loan
truyền khắp xứ Ấn độ, đến tai tín đồ các giáo phái ngoại đạo khác.
Như, đă có một đạo sĩ người Bà la môn tên Bavari sai mười sáu đồ
đệ đến yết kiến Đức Phật để thưa hỏi Ngài và thâu thập các kiến
thức. Nhiều kẻ khác cũng đă đến, để trắc nghiệm Ngài.(...) Dân
chúng Ấn độ vào thời ấy tỏ ra vô cùng hân hoan được nghe lời nói
của một bực sabbakammakkhayam patto, hay là một bực"lậu
tận thông" [Lậu tận thông: chấm dứt hoàn toàn các cấu
nhiễm về tinh thần]. (...)
Chúng ta nên noi
gương Ngài để nỗ lực chấm dứt nghiệp lực.
* * *
22.- "Đời sống nội
tâm của Đức Phật như thế nào?"
Đức Phật đă có lần
nói về chính ḿnh: "Như lai an trú trong ngôi đền Tánh Không (Sunnatà
vihàra, đền đài Tánh Không, đền đài
Rỗng vắng)."
"Đền đài" nầy là
một đền đài tâm linh, chẳng phải một ngôi đền vật chất. "Ngôi đền"(vihàra)
ở đây nói đến một tâm trạng, thuộc đời sống nội tâm. Ngôi đền
Rỗng vắng nầy ám chỉ một t́nh trạng tâm linh thường trực,
vắng bóng mọi tư tưởng về cái Ta và những ǵ thuộc về
của Ta. An trú trong ngôi đền Rỗng vắng là sống luôn
luôn trong sự tỉnh thức rằng muôn sự vật đều chẳng có tự ngă. Đó
là Tánh Không, Sunnatà, Sự Rỗng vắng, và những ǵ gọi là
ngôi đền Rỗng vắng.
Đức Phật an trú
trong ngôi đền Rỗng vắng ấy, thể nghiệm luôn luôn sự an lạc tuyệt
vời. Đấy là những ǵ Đức Phật nói về chính ḿnh.
* * *
23.- "Tại sao lại bảo
muôn vật đều rỗng vắng, thế giới nầy là một thế giới rỗng vắng?"
Tín đồ các tôn
giáo khác sẽ hỏi bạn: "Tại sao lại bảo thế giới nầy rỗng vắng khi
nó chứa đầy các sự vật? Đó chẳng phải là vật chất hay sao? Đó
chẳng phải là tâm linh hay sao? Đó chẳng phải là thế giới đầy ắp
những vật hay sao?"
Vấn đề chính là,
thế giới nầy đang rỗng vắng, vắng bóng mọi tự ngă và những
ǵ thuộc về tự ngă. Chẳng có chi để lấy đó làm một tự ngă.
Tự ngă chẳng có thể t́m thấy ở cái chi cả, chẳng ở nơi tinh thần,
chẳng ở nơi vật chất, chẳng ở nơi các sản phẩm khởi sanh từ tinh
thần hay từ vật chất. Khi Đức Phật tuyên bố rằng muôn sự vật rỗng
vắng, cũng chẳng bảo điều chi khác hơn là sự hay biết rằng nơi
muôn sự vật đều vắng bóng cái tự ngă.
* * *
24.- "Tại sao một tâm
trạng hiểu biết sự rỗng vắng lại được mô tả như một tâm trạng giải
thoát?"
Có một bài Kệ
trong Kinh Tạng bảo rằng: "Thật sự rỗng vắng là rỗng vắng về tham,
sân, và si." Một tâm thức rỗng vắng (chẳng bị ngăn ngại, chẳng bị
ràng buộc, hay được tự do, giải thoát) khi tâm thức đó đă được
thoát khỏi tham, sân, và si.
Khi một tâm thức
được thoát khỏi mọi vết tích của tham, sân, và si, dầu đă theo bất
cứ phương pháp nào hay đă dùng phương tiện ra sao, th́ cũng được
gọi là một tâm thức rỗng vắng, một tâm thức tự do (Thái ngữ gọi là
cit waang). Nhưng ở đây chúng ta chỉ nói đến những ǵ đă
được tích cực thi hành. (...) Khi đang ngủ, tâm thức cũng rỗng
vắng vậy nhưng chúng ta đâu có ư định tạo nên t́nh trạng đó. (...)
Thực tập về Chánh pháp là phải có một cố gắng nào khiến cho tâm
thức trở nên vắng bặt tham, sân, si, cho dầu chỉ trong một thời
gian ngắn đi nữa; được như vậy mới gọi là một tâm thức tự do,
trống không, rỗng vắng. Sự tự do và rỗng vắng đó có thể được làm
gia tăng lên từ từ cho đến khi trở thành trọn vẹn -- hoàn toàn tự
do và rỗng vắng. Một bực A la hán (hoàn toàn vô nhiễm) được
tuyệt đối giải thoát. Bực thánh giả, ở các giai đoạn đang
tu tập, được giải thoát khá rộng răi. Thường nhơn đôi khi cũng có
sự rỗng vắng và thỉnh thoảng được tự do.
Nếu vào một lúc
nào đó mà được giải thoát khỏi được tham, sân và si, th́ trong lúc
ấy chẳng có một tư tưởng nào về ngă kiến cả. Tâm thức ấy
được gọi là tâm thức rỗng vắng và giải thoát (theo Thái ngữ là
cit waang).
* * *
25.- "Việc ǵ xảy ra
khi có sự rỗng vắng hoàn toàn?"
Sự rỗng vắng trọn
vẹn, hay giải thoát hoàn toàn được gọi là Niết bàn (Phạn:Nirvana;
Pali: Nibbàna). Niết bàn là t́nh trạng rỗng vắng
khởi sanh từ sự tận diệt hoàn toàn và triệt để của
ngă kiến.
Có thể nói vắn tắt,
"Niết bàn là sự vắng lặng tối thượng." Đó là một cái nh́n độc đáo
vượt qua mọi kiến thức thông thường. Chúng ta có thể vượt lên khỏi
các loại kiến thức thông thường khi nh́n xuyên qua để thấy "Niết
bàn là sự rỗng vắng tối thượng".
Niết bàn là sự
rỗng vắng tối thượng, hoặc sự rỗng vắng tối thượng là Niết bàn.
Xin bạn hăy nhớ, sự rỗng vắng hoàn toàn là điều chúng ta đề cập
đến khi nói về Niết bàn.
* * *
26.- "Niết bàn là ǵ?"
Nếu bạn gặp kẻ nào
cứ đ̣i nêu ra câu hỏi trên, bạn hăy đáp: Niết bàn là một
yếu tố bất diệt (amatadhàtu). Hăy nói đó là một nguyên tố
chẳng hề chết, mất đi. Tất cả mọi yếu tố đều sẽ bị tiêu diệt,
nhưng chỉ riêng nguyên tố nầy, Niết bàn, là chẳng hề tiêu diệt,
bởi v́ nó đuợc giải thoát khỏi tham, sân, và si. Khi có sự giải
thoát khỏi sự si mê, th́ chẳng có ngă kiến, chẳng có sự chụp nắm
và bám níu vào tự ngă, và do đó chẳng thể có sự diệt mất được. V́
đă chấm dứt sự diệt mất, nên mới nói đó là yếu tố bất diệt. Yếu tố
bất diệt nầy chính là sự chấm dứt của yếu tố khả diệt.
* * *
27.- "Có nên gọi sự 'thoả thích' trong Niết bàn là một sự ham
thích chăng?"
Phật tử chúng ta
thường được dạy rằng chẳng nên ham thích hay chê ghét, hoặc cảm
thấy thích thú về điều nầy, bất măn về điều nọ. Nếu có ai t́m thấy
sự thoả măn về Niết bàn, chúng ta phải gọi sự thoả thích đó là ǵ?
Thường được nghe
rằng sự thoả thích về Niết bàn được gọi là Pháp ái
(Dhamma ràga, Pháp luyến, sự luyến ái về Pháp) hoặc là Pháp
lạc (Dhamma nandi, lạc thú về Pháp). Khi nghe như thế, vài
người tỏ ra có vẻ hơi hoảng hốt v́ chữ Pali: ràga, (luyến
ái) đă được dùng đi đôi với chữ Dhamma (Pháp). Nhưng chúng
nên hiểu rằng chữ luyến ái, ràga, được dùng trong chữ
Pháp ái chẳng phải hẳn là sự tham muốn về h́nh sắc, âm thanh,
hương, vị và xúc giác; nó chẳng có nghĩa tham ái về nhục dục. Nó
chỉ có nghĩa là sự thoả thích cao độ giống như xúc cảm của người
gia chủ thông thường t́m thấy trong sự thoả măn nhục dục. Và trong
trường hợp được nói ở đây, sự thoả măn đó được t́m thấy nơi sự
rỗng vắng, nơi sự bất diệt, nơi Niết bàn.
Thời bây giờ,
chúng ta thường ghê sợ và chẳng thích ǵ Niết bàn, đâu muốn đến
gần nó. Vừa nghe nói đến hai chữ ấy, chúng ta đă lắc đầu. Chưa bao
giờ chúng ta có sự ham thích về Chánh pháp, hay về Niết bàn. Mọi
ham muốn của chúng ta đều hướng về nhục dục: h́nh sắc, âm thanh,
hương, vị . Để được công bằng, chúng ta phải dành sự ham thích cho
Niết bàn cũng nhiều như chúng ta thích h́nh sắc, âm thanh... vậy.
Rồi nhờ đó mà sự tu tập để vượt thoát lên khỏi sự đau khổ, sẽ được
tiến hành dễ dàng hơn. Chính với nghĩa nầy mà Đức Phật đă dùng các
danh từ Dhamma ràga, Pháp ái và
Dhamma nandi, Pháp lạc.
* * *
Đây là câu hỏi thế
nào cũng được thường nêu lên:
28.- "Chứng đắc Niết
bàn sau khi chết hay c̣n sống?"
Các vị Pháp sư
thuyết giảng (...) thường chỉ nói đến cơi Niết bàn sau khi chết.
Tuy nhiên trong Tam Tạng Kinh Điển, chúng ta chẳng thấy điều ấy.
Có những từ ngữ như sandittithika nibbàna (Niết bàn mà
chính hành giả thấy được) và ditthadhamma nibbàna (Niết
bàn tại đây và bây giờ). Chúng ta được dạy rằng, các trạng
thái an lạc của tâm thức đang thể nghiệm bốn cảnh giới sắc
th́ền (rùpa jhànas) và bốn cảnh giới vô sắc thiền (arùpa
jhànas) (= tám đẳng cấp của sự thâm định) là sanditthika
nibbàna hay là ditthadhamma nibbàna. Tuy nhiên, nhằm
mục đích tiện lợi hiện giờ, chúng ta có thể hiểu rằng các cảnh
giới đó cũng như là những hương vị được nếm trước của Niết bàn.
Chúng có hương vị giống với Niết bàn, nhưng chẳng phải là đồng
nhất với Niết bàn thật sự. Bởi v́ các cảnh giới đó c̣n chưa tuyệt
đối và hoàn toàn, cho nên chúng chỉ được gọi là sanditthika
nibbàna và ditthadhamma nibbàna mà thôi.
Lại c̣n có những
từ ngữ hay hơn, rơ ràng hơn. Trong một dịp, Đức Phật có mô tả sự
chấm dứt của tham, sân, và si như là: "thấy được trực tiếp" (sanditthikam),
"có hiệu lực ngay tức khắc" (akalikam), "mời mọi người cùng
nh́n thấy" (ehipassikam), "hướng nội"(opanayikam),
và "được người hiền trí riêng thể nghiệm lấy" (paccatam
veditabbam vinnùhi). Những từ ngữ nầy đều hàm chứa ư nghĩ có
một người c̣n sống đang cảm thấy, nhận ra và thưởng thức Niết
bàn, rồi gọi các bạn hữu đến cùng nh́n xem những ǵ người ấy
vừa t́m thấy được. Điều nầy chứng tỏ rơ ràng kẻ ấy c̣n chưa chết,
và y đang thưởng thức hương vị của Niết bàn ngay trong tâm khảm
ḿnh.
Lại c̣n có thêm
những từ ngữ khác nữa, như: Anupàdà parinibbàna, nghĩa là,
những ǵ chứng đắc được khi c̣n sống; như Parinibabbàyati
ám chỉ đến sự quét sạch khổ đau và lậu hoặc mà chẳng cần đ̣i hỏi
đến sự tan rả và diệt mất của năm uẩn (tức là thân tâm), nói cách
khác, là chẳng cần phải chết về thể xác.
Trong ngôn ngữ
thông thường hằng ngày, chữ Niết bàn thường mang ư nghĩa là
"sự mát mẻ, sự vắng bóng của nóng bức, sự thiếu mặt của đau khổ."
Tôi muốn mời các bạn để ư cứu xét đến sự minh triết của tổ tiên
người Thái chúng ta qua câu nói: "Niết bàn t́m thấy trong
sự hấp hối trước khi chết." (...) Xin hăy cặn kẽ cân nhắc ư nghĩa
của câu nầy, (tôi xin nói rơ thêm ra): "Niết bàn t́m thấy
trong sự hấp hối (của cái tự ngă), trước khi (thân xác
nầy) chết đi." Đâu đă cần thân xác nầy diệt đi mất; chỗ cần phải
tiêu diệt, chính là sự chấp chặt vào ngă kiến (ư kiến về
cái Ta). Đấy mới là Niết bàn. Ai đă thực hiện được
điều đó th́ đang chứng đắc được niềm an lạc tối thượng, mà vẫn c̣n
tiếp tục cuộc sống (như thường).
* * *
Nhằm đào sâu vấn
đề Niết bàn hơn, chúng ta xét đến câu:
29.- "Thú vật thấp
kém có đắc được Niết bàn không?"
Trong một bản Kinh,
Đức Phật dùng các từ ngữ parinibbàyati và parinibbuto
liên quan đến các thú vật được huấn luyện thuần thục đến mức
chúng dứt hẳn tánh cương ngạnh đi. Thí dụ như chó, voi, ngựa, hay
bất cứ con thú nào khác, khi được huấn luyện cho đến mức thuần hoá,
chẳng c̣n ngỗ nghịch nữa, th́ chúng ta dùng chữ parinibbuto;
chính chữ nầy lại được ứng dụng vào trường hợp một vị A la
hán, bậc đă diệt trừ xong hoàn toàn tất cả các lậu hoặc. Hai
từ ngữ trên đây cũng được áp dụng cho một người dập tắt hẳn các
ngọn lửa, một người đă hoàn toằn lắng dịu lại. Trong ngôn ngữ Pali
như đă được dùng vào thời Đức Phật, từ ngữ parinibbàna cũng
được dùng theo cách đó. Khi ứng dụng vào con người, nó có nghĩa là
sự hoàn tất công việc dập tắt các lậu hoặc, tức là đạo quả A la
hán (sự toàn thiện tinh thần). Khi ứng dụng vào hạng súc sanh, nó
có nghĩa là đă dứt hẳn thú tánh cương ngạnh. Ứng dụng vào lửa, nó
diễn tả sự tắt ngúm và nguội lạnh của các tàn than nhỏ c̣n sót lại.
Nói đến cơm nóng bốc hơi, từ ngữ parinibbàna được dùng để
chỉ chén cơm đă nguội. Đó là một tiếng thông dụng hàng ngày, để
nói đến các vật nào nguội lạnh, các vật nào chẳng c̣n gây tác hại
nữa.
Vậy th́ chúng ta
nên biết khéo lợi dụng nghĩa chữ Niết bàn và đừng có làm tệ
hơn ngay cả các thú vật mà chữ ấy c̣n áp dụng vào được nữa. Đừng
chần chờ cho tới khi thần chết đến; đó là sự ngu muội tột cùng,
lăng phí mất món quà qúi báu của Đức Phật. Hăy học tập trở lại
ngay các từ ngữ Nibbàna (Niết bàn) và Parinibbàna
(Đại bát Niết bàn), cùng với tiếng phụ thuộc của nó là
Parinibbuto (được thuần hoá, trở nên trầm tĩnh). Rồi khởi lên
sự can đảm và nhiệt tâm tiến sâu vào, để sớm chứng đắc được
Niết bàn. Chớ có co rút lùi lại như những kẻ vừa nghe đến hai
tiếng Niết bàn đă chóng mặt, lo âu, hay tỏ ra chán ngấy.
Xin tất cả các bạn
hăy đặc biệt lưu tâm đến chữ Niết bàn. Sự vượt thoát các ảnh hưởng
tai hại, ngay cả việc trải qua các giai đoạn khó khăn của tuổi
thanh thiếu niên, có thể được gọi là một thứ Niết bàn, cũng tựa
như các thú vật đă được huấn kuyện để lià bỏ tánh cương ngạnh nguy
hiểm của chúng; những điều đó là parinibbuta, nghĩa là, sự
trầm tĩnh, sự nguội lạnh, hoàn toàn nguội lạnh. Vậy th́, chúng ta
nên làm người trầm tĩnh, nguội lạnh, để chẳng c̣n có điều ǵ làm "bốc
lửa" lên trong chúng ta, để nung nấu, đốt cháy chúng ta nữa được.
Đừng bao giờ khinh xuất để cho ngọn lửa bốc lên; trái lại cần đạt
cho được phần thưởng Niết bàn. Hăy bắt đầu ngay với loại Niết bàn
sanditthika nibbàna hay ditthadhamma nibbàna, rồi từ
từ qua các giai đoạn mà thẳng tiến đến bực thang của Niết bàn thật
sự.
* * *
30.- "Điều ǵ là tốt
lành tột bực cho nhơn loại?"
Bực Đại Giác (Đức
Phật) có lần nói rằng: "Tất cả chư Phật đều bảo, Niết bàn là tối
thượng." Tối thượng ở đây có nghĩa là "điều tốt lành tối hậu và
cao cả nhứt cho nhơn loại." Trong ngôn ngữ quốc tế về các qui điều
hành động đúng qui tắc, có một từ ngữ La tinh là summum bonum
(cực điểm tối hảo, điểm tốt cao tột), có nghĩa là sự tốt lành
cao tột, điều tốt nhứt và cao cả nhứt mà một con người có thể đạt
được ngay trong đời nầy. Các nhà học giả Phật giáo đồng ư rằng
trong Phật học cũng có một summum bonum, và đó phải là
chính Niết bàn. Vậy, nếu có người ngoại quốc nào hỏi bạn,
summum bonum của Phật giáo là ǵ, bạn hăy trả lời rằng: "Chư
Phật đều bảo, Niết bàn là tối thượng."
* * *
31.- "Vào thời buổi
nầy, thế giới có được các bực A la hán chăng?"
Trả lời điểm nầy,
ta có thể viện dẫn lời Đức Phật: "Nếu tất cả các tỳ kheo sống
chơn chánh, thế giới chẳng vắng bóng các A la hán." Lời nầy
được Đức Phật nói ngay vào ngày Ngài mất.
Nếu có ai nghi ngờ,
cật vấn rằng, ngày nay c̣n có bực A la hán chăng, xin bạn đừng trả
lời giản dị bằng "Có" hay "Không". Trả lời quá đơn giản như thế là
một lỗi lầm nghiêm trọng. Phải nên dùng lời Đức Phật mà đáp: "Nếu
các tỳ kheo sống chơn chánh, thế giới chẳng vắng bóng các
bực A la hán."
* * *
Như thế, họ sẽ hỏi
tiếp:
32.- "Sống chơn chánh
là nghĩa làm sao?"
"Sống chơn chánh",
thật ra, có một nghĩa đặc
biệt của nó. Sống chơn chánh là giản dị duy tŕ các điều kiện
khiến cho các lậu hoặc chẳng thể được nuôi dưỡng và phát triển nổi.
Do vậy, điều đó chẳng là ǵ khác hơn là luôn luôn trong mọi thời,
sống với một tâm trạng giải thoát và rỗng vắng (Thái ngữ: cit
waang, đọc là "chịt-hoáng"), có nghĩa là, chẳng hề chụp
nắm và bám níu vào bất cứ sự vật ǵ để xem như là Ta hay là
thuộc về của Ta. Rồi th́, mặc dầu ta vẫn cứ tiếp tục nói
năng, suy nghĩ, và hành động; vẫn tầm cầu, hưởng dụng, và tiêu thụ;
ta chẳng hề có một ư tưởng nào muốn nắm bắt sự vật nào để làm cái
Ta; chỉ luôn luôn hành động với sự tỉnh giác thường trực,
hành động khôn khéo, hành động với trí huệ, trong mọi trường hợp
mà ḿnh có liên hệ đến -- đấy là những ǵ được biết là "sống chơn
chánh". Nói cách khác, sống chơn chánh là sống cách nào khiến cho
các lậu hoặc chẳng c̣n phương thế để khởi dậy và được nuôi dưỡng.
Chúng ta có thể
nói cách khác hơn nữa, sống chơn chánh là giữ đúng theo con đường
Bát Chánh Đạo. Sống như vậy là sống chơn chánh v́ chánh tri kiến,
phương diện thứ nhứt của Bát Chánh Đạo, cũng chỉ là sự hiểu biết,
kiến thức, trí huệ hoàn toàn chẳng bị che mờ, đă thấu rơ rằng,
chẳng c̣n có ǵ để chụp nắm và bám níu vào. Như thế, khi phấn đấu,
khi nói năng, trong bất cứ động tác nào, cũng chẳng hề có sự chấp
thủ.
Nếu chúng ta sống
chơn chánh y như đă mô tả, các lậu hoặc (các cấu nhiễm tinh thần
như tham, sân, si...) đều bị thiếu bồi dưỡng mà trở nên "hốc hác",
("gầy ốm") để rồi tự chúng, chúng sẽ rơi rụng lần lần mà tiêu diệt
mất đi hết. Chẳng c̣n cách nào cho chúng nổi lên trở lại, v́ ta đă
bỏ được thói quen dung túng chúng khởi lên rồi. Đây là điều quan
trọng v́ các khuynh hướng bất thiện (anusaya, xu hướng làm
điều ác), mỗi ngày được chồng chất bên trong, chỉ là một vấn đề v́
đă quá quen thuộc với các lậu hoặc. Tuy nhiên, những ai chẳng biết
được điều nầy, cứ tưởng rằng các lậu hoặc là những thực thể thường
hằng, riêng có cái tự ngă, đấy là họ đang vướng phải tà
kiến về thường kiến (sassata ditthi, ư kiến sai lầm
về sự thường hằng). Ai bảo rằng các lậu hoặc là những thực thể
thường c̣n nằm lắng sâu bên trong tâm tánh, đó là người đang mắc
vào thường kiến, ôm chặt lấy niềm tin sai lạc là có một tự ngă
vĩnh cửu, (và bất biến) hoặc là linh hồn. C̣n những
người có trí huệ và chánh tri kiến căn cứ trên các nguyên tắc của
Phật học th́ chẳng hề xem các lậu hoặc đó như những thực thể độc
lập và thường hằng hay là tự ngă. Sự hiện hữu của các lậu
hoặc đều có lư do: sở dĩ chúng khởi lên v́ đă tuân đúng theo với
luật nhơn quả. Khi chúng thường khởi lên quá nhiều lần, ta trở nên
quen thuộc với chúng, rồi mới xem chúng như phương diện thường
hằng của bản tánh ḿnh. Tin rằng chúng là những thực thể thường
hằng sẽ khiến ta cho rằng chúng đang nằm sâu bên trong tâm ta măi
măi.
Bạn hăy nên hiểu,
các khuynh hướng bất thiện (anusaya) chỉ là thói quen xu
hướng của chúng ta, kết quả của một tiến tŕnh tập làm quen (lâu
ngày) đó thôi. (...)
* * *
Rồi câu mà họ sẽ
hỏi tiếp nữa là:
33.- "Muốn trở thành
A la hán, khó hay dễ?"
Hầu hết mọi người
đều trả lời là khó vô cùng. Chẳng ai dám nghĩ rằng việc đó cũng dễ.
Ngay đây, ta nên giữ đúng nguyên tắc là đừng đưa ra các lời đáp
chẳng được chỉnh. Ai mà đáp chẳng chỉnh như nói (...) "Dễ mà" hoặc
"Khó lắm", là người ấy c̣n chưa xứng danh hiệu của một Phật tử.
Nguyên tắc của Đức
Phật nêu lên là nguyên lư nhơn quả. Nếu chúng ta hành động đúng
đắn, xuyên qua sự hiểu biết về nguyên lư nhơn quả, th́ việc trở
thành bậc A la hán là dễ. Nếu chúng ta đi ngược với nguyên lư nhơn
quả, th́ việc đó rất chi là khó khăn. Chỉ vỉ chúng ta đă quen (sống)
với các lậu hoặc cho nên việc trở thành bậc A la hán mới thấy khó
khăn. Ở đây, chúng ta nên nhớ lại lời Đức Phật đă nói, "Nếu chúng
ta sống chơn chánh, thế giới nầy sẽ chẳng vắng bóng các bậc A la
hán." Cuộc sống chơn chánh đó đâu có quá khó, nó chẳng vượt quá
khả năng của chúng ta. Chận đứng các lậu hoặc đừng cho chúng được
nuôi dưỡng. Nếu chúng ta muốn giết chết một con cọp, chúng ta nhốt
nó vào chuồng, bỏ đói; chẳng có ǵ ăn, nó sẽ chết mất. Đâu cần chi
phải đi vào chuồng, tranh đấu với cọp, để bị cọp cắn xé . Đấy là
muốn nói rằng việc ấy chẳng vượt quá khả năng chúng ta đó. Và đó
cũng là một kỹ thuật khéo, nằm ngay trong khả năng của chúng ta.
Do đó, muốn trở
thành một bậc A la hán, khó hay dễ là tùy theo chúng ta có áp dụng
phương pháp đúng hay sai. Nếu ta tuân theo lời Phật dạy, th́ việc
ấy cũng đâu khó khăn chi lắm. "Hăy sống chơn chánh, và thế giới
nầy chẳng vắng bóng A la hán."
* * *
Lại một câu hỏi
nữa (về vấn đề trên) thường được nghe:
34.- "Nếu gặp được một bậc A la hán, chúng ta có thể nhận ra
không?"
Người ta thường
thích nêu câu hỏi trên đây lắm. Vài người nghi ngờ rằng, dầu có
gặp một bậc A la hán, hiện ở thế giới nầy, đang cùng đi trên đường,
chúng ta cũng khó ḷng nhận ra được. (...) Hăy suy gẫm: nếu chúng
ta chẳng nhận ra nổi người đó là vị A la hán và chẳng bao giờ nhận
ra được bất cứ vị nào, th́ ngay cả giữa các bậc A la hán với nhau,
họ cũng chẳng nhận ra nhau được.
Truyện kể rằng
ngay cả Trưởng lăo Xá lợi phất cũng chẳng nhận ra được tỳ kheo
Lakuntakabhaddiya đă chứng đắc A la hán rồi. Trưởng lăo cứ theo
giảng Chánh pháp cho vị tỳ kheo đó, với mục đích giúp cho vị ấy
chứng được quả vị A la hán. (...)
(...) Tuy nhiên,
một vị Trời ở cơi Phạm thiên, tuy chưa đắc quả vị A la hán, cũng
có thể nhận ra ai được vào hàng A la hán. Vị Thiên tử nầy có thể
tiên đoán ai khi chết đă chứng đắc Niết bàn, và ai khi chết th́
chưa đắc.
Như thế, khi đáp
câu trên, chúng ta nên bảo, có thể chúng ta nhận ra được, có thể
chẳng nhận được, tùy theo trường hợp. Ngay cả các vị A la hán với
nhau, c̣n chưa nhận được nhau ra. Chúng ta (nhớ) đừng đưa ra các
câu trả lời chẳng chỉnh, như vài vị pháp sư trong giảng đường
thường hay tỏ ra "quá giáo điều" về vấn đề nầy.
* * *
35.- "
T́m gặp ở
đâu ra một vị A la hán?"
Chúng ta phải t́m
gặp được một vị A la hán ở nơi nào có sự tận diệt các lậu hoặc (các
cấu nhiễm tinh thần). Đừng nhọc công đi lùng kiếm trong rừng, nơi
tu viện, trong hang động, trên đỉnh núi, trong làng mạc, nơi thành
thị, hay ở trung tâm thiền định. Chỉ ở nơi nào có sự chấm dứt hoàn
toàn các lậu hoặc mới t́m ra được một bậc A la hán mà thôi. Bạn có
thể đưa ra các trắc nghiệm, điều tra hoặc thể nghiệm lấy, để chứng
tỏ với bạn sự dập tắt hẳn các lậu hoặc. Nếu việc ấy chẳng thể làm
nổi, th́ cũng chẳng cần lùng kiếm thêm chi nữa, (...) tự bạn sẽ
hiểu lấy đó thôi.
Nơi nào có sự tận
diệt các lậu hoặc, nơi đó có vị A la hán.
* * *
36.- "Thường nhơn có thể trở thành A
la hán chăng?"
Chớ vội đưa ra câu
trả lời chẳng chỉnh, bảo rằng có thể được hoặc chẳng thể nào được.
Nên đáp rằng, một vị A la hán đă vượt lên trên cả hai đời sống thế
tục và tăng lữ. Bạn nên ghi nhớ kỹ cho điều nầy, tin rằng một
người đă đắc A la hán phải gấp gấp xin thọ giới tỳ kheo trong ṿng
bảy ngày, bằng không sẽ chết mất, đấy chỉ là lời xác quyết của các
"ông thầy" quá tự tín, quá cố chấp, của đời sau, và chỉ thấy ghi
trong các Chú giải, Phụ giải hay các tác phẩm hậu kinh điển mà
thôi. Một vị A la hán bao giờ cũng siêu thoát cả đời sống tại thế
và xuất thế. Chẳng có ai bắt buộc được một vị A la hán phải quay
về làm người thường nhơn sống theo thế tục được, v́ vị nầy đă vượt
lên trên ngay cả cuộc đời tăng lữ nữa.
Do đó, đừng (để
mất thời giờ) đi tuyên bố, một vị A la hán có thể sống tại nhà hay
không. Cho dầu ta có thể bắt buộc một vị A la hán phải về nhà sống
đời thế tục, nhưng chẳng ai ép Ngài trở thành một người gia chủ (c̣n
bị ràng buộc) được. Ngài đă siêu việt cả hai: đời sống tại gia và
nếp sống tăng lữ.
* * *
Và đây là một câu
hỏi khác, (cũng liên quan đến vấn đề):
37.- "Một kẻ "sát nhân"
mà
thành A la hán được sao?"
Trả lời câu hỏi
nầy tưởng cũng khá dễ dàng. Nơi tiếng "sát nhân", chữ "nhân"
là "cá nhơn"; chính cái "cá nhơn" đó cần phải giết chết trước
đi, rồi mới trở thành A la hán. Nếu điều mà ta gọi là "cá nhơn",
là "nhơn", là "người" đó mà chưa được diệt hẳn, th́ chẳng có cách
nào để đắc quả vị A la hán cả. Ta cần phải trước hết là giết chết
cái ư niệm "người", "tự ngă", "Ta", và "nó", "thú
vật", "chúng sanh". Nói cách khác, cần phải chấm dứt mọi sự
bám chặt vào các ư niệm, đây là "thú vật", đây là "con người", đây
là một "thực thể thường trú", đây là "tự ngă". Và làm được như thế
tức là phải loại trừ ra hẳn cái ư niệm về "con người", hoặc phải
dẹp bỏ cho sạch hẳn cái ǵ mà ta xem như là "tự ngă". Đang làm
được điều ấy là đồng thời đang trở thành một vị A la hán. Bởi lư
do đó mới nói, ta có giết chết xong con người th́ mới đặng thành A
la hán. Đức Phật đôi khi lại dùng những tiếng c̣n mạnh hơn nữa.
Trong nhiều dịp, Ngài có nói, phải giết chết cha mẹ đi mới có thể
thành A la hán. "Cha mẹ", ở đây, ám chỉ cho các cấu nhiễm tinh
thần (lậu hoặc) như si mê, khát ái, và cố chấp, hoặc bất cứ hành
động tạo nghiệp nào đă đóng vai tṛ như cha mẹ, như người truyền
giống đă hiệp với nhau để khai sanh ra cái "con người", cái ư niệm
về "Ta". Vậy ta cần phải diệt trừ chúng cho tiệt hẳn, phải giết
"cha", giết "mẹ" của "con người" đó, mới mong thành A la hán.
Giờ đây, (nhắc lại)
chuyện Angulimàla, (Chỉ man hay Ương quật ma la), một kẻ "sát nhân"
nổi tiếng (vào thời Đức Phật). Chỉ man trở thành A la hán khi ông
tiêu diệt hẳn "con người". Khi ông nghe Đức Phật bảo "dừng lại",
ông liền hiểu rơ ngay ư nghĩa đúng đắn của hai chữ đó. Vài
người, v́ sự hiểu lầm, đă cố giải nghĩa rằng, Đức Phật muốn nói,
chính Ngài đă dừng lại, nghĩa là dừng sự chém giết người, trong
khi đó Chỉ man vẫn c̣n tiếp tục giết chóc, lúc cả hai gặp gỡ nhau.
(...) Giải thích như thế chẳng được đúng lắm. Khi Đức Phật nói:
"Ta đă dừng lại", Ngài muốn bảo, Ta đă dừng lại việc làm
"con người", Ta đă chấm dứt hoàn toàn là "con người" ". Chỉ man
hiểu rất đúng thế nào là đă thôi, đă dừng lại, là "con người",
hiểu rất đúng cho đến mức ông ta có đủ khả năng để tiêu trừ (tận
gốc rễ) cái "con người" (nơi tâm ông), đă diệt bỏ được hẳn cái ư
niệm về "con người", về "cá nhơn" (ở trong đầu óc ông). V́ thế mà
Chỉ man mới thành đặng một vị A la hán.
Chỉ có mấy chữ
giản dị "dừng lại" trong tích chuyện mà đă có nhiều người
hiểu ư nghĩa hoàn toàn sai lầm. Tích chuyện đó bị hiểu sai, giải
thích sai, bàn căi sai, giảng dạy sai, khiến nó đă trở nên mâu
thuẫn. Bảo rằng thành đặng A la hán chỉ v́ giản dị đă chấm dứt
việc sát hại con người, (nói như thế chẳng) là buồn cười (lắm hay
sao?)
Vậy th́, ta phải
dừng lại chẳng là "người" nữa và giết chết cái việc tin tưởng (đă
sai lầm lại) bền bỉ vào (ư niệm về) "cá nhơn", "tự ngă", "Ta", và
"chúng nó", trước khi ta có thể làm đặng một bậc A la hán. Nói
cách khác, muốn trở thành A la hán, hăy giết chết "con người".
* * *
Đến đây, tôi xin
xét một điểm nhỏ để giúp các bạn hiểu dễ dàng các vấn đề sắp tới.
Câu hỏi như thế nầy:
38.- "Thế giới hiện
tràn đầy những ǵ?"
Vài người có viễn
ảnh nh́n xa, sẽ đáp: "Thế giớí nầy đầy tràn đau khổ (dukkha)".
Thí dụ như họ nói, ngoài việc khởi lên, trụ lại rồi diệt mất ra,
cũng chỉ là một nguồn khổ đau thôi. Điều nầy cũng đúng, nhưng khó
cho ta hiểu rơ được.
Tưởng nên dùng lời
Phật nói để đáp câu trên: "Thế giới nầy tràn đầy các vật rỗng vắng.
Thế giới nầy rỗng vắng. Chẳng có sự vật ǵ là "Ta" hoặc "thuộc về
của Ta"."
Bạn đừng thoả măn
với lời đáp đơn giản là "trong thế giới nầy chỉ có đau khổ; chẳng
có ǵ ngoài nguồn khổ đau mà thôi." Lời tuyên bố đó, tuy đúng,
nhưng hàm hồ, dễ bị hiểu lầm; bởi v́ các sự vật nói đó, nếu chúng
ta đừng chụp bắt và bám níu vào, th́ chúng đâu hề là nguồn đau khổ.
Hăy nghĩ lại cho đúng. Thế giới nầy và ngay cả các sự vật trên thế
giới đó, tự chúng nó, chẳng hề gây ra đau khổ, đă chẳng từng là
nguồn gốc của đau khổ. Chính vào lúc ta chụp nắm và bám níu, đau
khổ sanh ra. Nếu chẳng chấp thủ, sao có đau khổ được? Bảo rằng đời
là (bể) khổ, đó là lời nói cạn cợt, quá đơn giản, và ấu trĩ. Đời
sống, khi bị nắm bắt và bám níu vào, mới là đau khổ; chẳng chấp
thủ vào đời sống th́ chẳng đau khổ.
Cuộc sống nầy có
mục tiêu, chớ chẳng phải vô nghĩa. Vài người thích bảo rằng đời
sống chẳng có mục tiêu, chỉ v́ họ chẳng biết cách đem mục tiêu lại
cho đời sống. Nếu chúng ta biết cách dùng đời sống nầy làm một khí
cụ để thám sát về thế giới, về các nguyên nhơn của thế giới, và về
cách thực hành để đi đến sự tận diệt của thế giới, th́ đời sống sẽ
có mục tiêu. Như thế, đời sống là một phương cách để nghiên cứu,
thực tập, và nhận lănh các thành quả của sự thực tập ấy. Nó là một
phương tiện tiến tới để hiểu biết được một điều tốt nhứt mà nhơn
loại có thể biết, và phải biết, tức là Niết bàn. Vậy các
bạn nên nhớ, đời sống có mục đích chớ chẳng không, mặc dầu người
khờ v́ chẳng biết cách dùng nó, mới khiến cho nó thành ra vô nghĩa.
Thế giới nầy tràn
đầy những ǵ? Nếu nh́n ở quan điểm thấp, th́ nói, nó đầy khổ đau.
(...) Nhưng nếu nh́n trên quan điểm cao hơn, bạn có thể nói, thế
giới nầy, chẳng là ǵ khác hơn một tiến tŕnh chẳng ngừng của sanh,
trụ, diệt, rồi lại sanh, trụ, diệt... Nếu chúng ta chụp nắm và bám
níu vào nó, đau khổ sẽ được gây ra. Nếu chúng ta chẳng chụp nắm và
bám níu vào nó, th́ nó cứ giản dị tiếp diễn măi việc sanh, trụ, và
diệt. Do đó, chúng ta nên nhớ rằng, một người đă được giải thoát,
tự do, trở thành bậc A la hán, chẳng hề xem muôn vật như suối
nguồn của đau khổ, hay cả của hạnh phước nữa. Năm uẩn (tức là thân
tâm) vô nhiễm của bâc A la hán chẳng thể được xem là đang vướng
mắc vào sự đau khổ. (Nơi bậc A la hán), chỉ có sự trôi chảy, biến
đổi, và chuyển hoàn của năm uẩn ấy, đúng theo nguyên lư nhơn duyên.
Tóm lại, thế giới
nầy đầy tràn những ǵ? Nó bao trùm muôn vật đang sanh, trụ và diệt.
Chấp thủ vào chúng, chúng sẽ gây ra đau khổ. Hễ đừng nắm bắt và
bám níu vào chúng, chúng chẳng hề tạo nên khổ đau.
-ooOoo-
-
Phần 3 -
Thường nhơn hay
hỏi câu nầy:
39.- "Điều ǵ đem lại
nhiều phước, điều ǵ đem lại ít phước?"
Đức Phật dạy: "Giá
trị của việc tạo phước, căn cứ trên sự tham lam, chẳng bằng một
phần mười sáu giá trị của việc vun trồng tâm từ (mettà)."
Việc tạo phước căn
cứ trên ḷng tham bao gồm các việc làm phước v́ danh vọng, làm
phước v́ muốn đánh đổi với việc sanh lên cơi Trời hay cảnh Thiên
đàng, làm phước để được tái sanh lại làm bực giàu sang, và làm
phước để được hưởng các thú vui nhục dục. (...) Đó chỉ là nắm bắt
và bám níu. Tạo phước như thế đó, tuy vẫn có được phước đức, nhưng
giá trị của nó chẳng bằng một phần mười sáu của việc tu tập tâm
Từ (Mettà). Ḷng Từ chẳng dựa trên tự lợi; nó được thực
tập v́ lợi ích của người khác. "Từ " là sự thương yêu phổ quát đến
mọi chúng sanh. Sự tạo phước căn cứ trên tâm Từ có một giá trị cao
rộng, to lớn hơn nhiều so với việc tạo phước căn cứ trên ḷng tham.
[Trong ngôn ngữ
Pali, khi muốn chỉ sự khác biệt to lớn giữa các vật, người ta
thường dùng thành ngữ: "phần mười sáu lấy (chẻ nhỏ) mười sáu lần".
Thí dụ như ta có một đơn vị của vật ǵ. Chẻ đơn vị ấy ra làm mười
sáu phần, lấy một; rồi đem phần mười sáu đó chẻ ra làm mười sáu
phần nữa, rồi lấy một... cứ thế cả thảy mười sáu lần chẻ, mới được
phần mười sáu của phần mười sáu.]
(...)
* * *
40.- "Phước đức to lớn nhứt t́m thấy ở đâu?"
Đă có lần Đức Phật
nói: "Phát triển sự hiểu biết rơ về vô thường (aniccaannà),
dầu chỉ trong cái khảy ngón tay cũng đem lại nhiều hiệu quả và
phước đức hơn là cúng dường thực phẩm cho cả Tăng đoàn có Đức Phật
hướng dẫn."
Điều nầy có nghĩa
là, nếu chúng ta có thể thỉnh Tăng đoàn và Đức Phật (...) đến hiến
cúng thực phẩm, chúng ta vẫn c̣n chưa được phước bằng việc thành
công trong sự phát triển ư thức về vô thường, dầu chỉ xảy ra ngắn
ngủi như cái khảy ngón tay. Đây là điểm căn bản nhứt.
Do đó, các bạn nên
tỏ ra dè dặt trước các đại công tác bố thí của vài người được
trưng bày trên tường các đền đài, bởi v́ các thí chủ đó quan tâm
đến các lạc thú nhục dục. Đại phước báu phải là điều mà Đức Phật
đă mô tả. Phát triển ư thức về lẽ vô thường, dầu chỉ trong phút
chốc, cũng c̣n qúi hơn tất cả các loại cúng dường cho chư tỳ kheo.
* * *
41.- "T́m ở đâu mà gặp được (...) hạnh phước?"
Trong Kinh điển,
có một đoạn thuật lại rằng, các vị Trời (devatas) hấp hối,
sắp qua đời, v́ đă hưởng hết phước đức, nên đă đến giai đoạn chót
của đời họ. Đoạn Kinh c̣n nói, chư Thiên ước mong đạt đến một t́nh
trạng an lạc, t́m cầu và hi vọng biết được nơi ấy. Sau cùng, họ đi
đến kết luận là t́nh trạng an lạc đó có thể t́m thấy ở cơi nhơn
gian. Họ đồng thanh nói lên trong sự vui mừng: "Nguyện cầu mọi ước
mong được thành tựu! Hăy đi đến cảnh an lạc ở cơi nhơn gian!"
Từ ngữ "cảnh an
lạc ở cơi nhơn gian" có nghĩa là, ở cơi nhơn gian lẽ vô thường, sự
bất toại nguyện, và lư vô ngă đều có thể nhận thấy được dễ dàng
hơn là ở cơi chư Thiên. Nơi cơi nhơn gian, có các bậc giác ngộ, có
các bậc A la hán, và có cả Đức Phật, Chánh Pháp, cùng Tăng già.
Trên cơi Trời, (giữa) rừng lạc thú nhục dục, chẳng có các điều (quí
báu) vừa kể. V́ vậy, các bậc Trời đă đến cơi nhơn gian để t́m cảnh
an lạc. Thật là buồn cười khi loài người lại muốn sanh lên Trời để
được sung sướng! Vậy mà nhiều người muốn t́m cách sanh lên thiên
đàng, để t́m hạnh phúc cho kiếp sau. Họ "đầu tư" vào việc đó bằng
cách tạo phước, bố thí, bán nhà cửa của cải, và xây cất (...) chùa
chiền. Cảnh hạnh phúc thật sự ở vào đâu? Xin các bạn hăy suy gẫm
kỹ lại.
* * *
Tiếp theo đây,
liên quan đến vấn đề thần thông (iddhis), câu hỏi thường
nêu lên là:
42.- "Chúng ta nên
quan tâm đến mức nào về vấn đề thần thông (iddhis)?"
Trước nhứt, (...)
chữ iddhis (tạm dịch là thần thông), có nghĩa là "năng
lực". Nguyên trước kia, tiếng đó được dùng hằng ngày, để chỉ một
đồ vật trong nhà có công dụng góp phần tiện lợi cho ta làm xong mỹ
măn một công việc một cách hoàn toàn thông thường. Bất cứ vật ǵ
giúp ta được tiện lợi như thế đều được gọi là iddhi. Nghĩa
gốc nầy sau đó được dùng rộng ra để nói đến các việc kỳ diệu, lạ
thường, rồi sau cùng, mới chỉ đến các "phép mầu thần thông"
vốn là những hiện tượng hoàn toàn về tâm linh. V́ các thần thông
đó có tính cách tâm linh, chúng có được các đặc tánh tạo tác và
tiện lợi khiến chúng trở thành kỳ diệu hơn và bao quát hơn, so với
các sự việc vật chất. Chúng cũng tựa như các dụng cụ, máy móc để
đỡ tốn nhơn lực của chúng ta ngày nay, (...) như các xe trắc tơ (ủi
đất) đấp đường, v.v... Các dụng cụ đó cũng có thể được gọi là
iddhis, nhưng chúng chỉ là những "kỳ quan" vật chất mà thôi.
C̣n các iddhis, thần thông, mà chúng ta muốn nói đến, lại
liên quan đến tâm thần, chúng (...) chẳng phải là vật chất.
Một người biểu
diễn thần thông (iddhis) đă huấn luyện tinh thần ḿnh cho
đến mức mà y có thể khiến cho kẻ khác thể nghiệm được bất cứ cảm
giác nào mà y muốn cho kẻ khác cảm xúc được. Y có thể khiến cho
các người khác thấy vật với chính mắt của họ, đúng như y muốn cho
họ thấy; nghe được rơ ràng và phân biệt các âm thanh nào mà y muốn
cho họ nghe; ngửi mùi hương nào mà y muốn họ ngửi được; nếm vị nào
mà y muốn họ được nếm bằng chính lưỡi của họ; và cảm xúc qua làn
da của họ sự mềm dịu hay cứng rắn và các kích thích khác về xúc
giác. Phương cách đó c̣n tiếp diễn cho đến khi người biểu diễn
thần thông có thể khiến cho kẻ khác thể nghiệm sự sợ sệt, sự
thương yêu, hoặc là các tâm trạng khác nữa mà họ chẳng biết được
lư do tại sao. Thần thông, iddhis, như thế đă tỏ ra rất
tiện lợi và thật là kỳ diệu.
Nhưng thần thông
là một loại hiện tượng thuộc về tâm linh, (...) chẳng thể tạo nên
các món đồ vật chất thật sự có giá trị hữu dụng được. Chúng chẳng
thể tạo dựng am cốc cho chư Tăng, đền miếu, lúa gạo, cá hay thực
phẩm được (...) Các đối tượng (gợi lên đó) dường như có thật trước
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, hay tâm, nhưng chỉ kéo dài trong khoảng
thời gian mà thần thông được thi triển, rồi sau đó chúng biến đi
mất. Các thần thông, tự chúng, chẳng cất nổi am cốc, chùa chiền,.(...),
Kỳ viên tự, Trúc lâm tịnh xá đă phải do tín đồ xây dựng và cúng
dường lên Đức Phật. Và đă nhiều phen, chính Đức Phật đă nhịn đói
v́ nạn đói kém; ăn luá mă mạch dành để nuôi ngựa, và mỗi ngày chỉ
một nắm lúa thôi.
Các điểm nêu trên
nhắc nhở ta rằng, vật chất và tinh thần là hai cảnh giới khác biệt
nhau. Có thể biểu diễn thần thông (iddhis) về cả hai mặt. Đức Phật
chẳng phủ nhận các thần thông về tâm linh, nhưng Ngài cực lực cấm
đoán sự biểu diễn chúng v́ chúng chỉ là những ảo giác không hơn
không kém. Ngài cấm các tỳ kheo thi triển thần thông, và chính
Ngài cũng tự chế, chẳng dùng đến. Chúng ta chẳng đọc thấy trong
Tam Tạng Kinh Điển (Tipitaka) có đoạn nào nói đến việc Đức
Phật thi triển thần thông. Cũng có nhiều đoạn kể lại việc Đức Phật
thi triển thần thông, nhưng chỉ thấy ghi trong các bản Chú giải,
Phụ giải, và các tác phẩm khác; do đó, sự thật của các lời tường
thuật đó vẫn c̣n đáng nghi ngờ -- mặc dầu chúng ta nghĩ, đâu có
cần ǵ phán đoán đúng hay sai.
Đức Phật đă có lần
nói rằng: "Các loại thần thông được thi triển như bay trên không,
tàng h́nh, thiên nhĩ, thiên nhăn, và các loại tương tợ khác đều có
liên hệ với các lậu hoặc và các chấp thủ (sàsavà và
upadhikà)." Sàsavà có nghĩa là "liên hệ với các
lậu hoặc (= àsavàs, tức là chất mủ rỉ chảy (lậu) ra nơi các
vết độc tinh thần như tà kiến và si mê). Nói cách khác, thần
thông hữu lậu, sàsavà iddhis, được thi triển v́ các lậu hoặc
tà kiến hoặc si mê đă thúc dục. C̣n chữ upadhikà nghĩa là
chấp thủ (= bám níu), do đó upadhikà iddhis là các thần
thông v́ sự chấp thủ mà thi triển lên. Cả hai loại thần thông đó
đă được người phô diễn ra với một tâm trạng nhiễm ô c̣n chụp nắm
và bám níu.
Giờ đây, hăy chú
tâm đến hai loại thần thông chơn chánh hơn, đó là anàsavà
iddhis (thần thông vô lậu) và anuppadhikà iddhis (thần
thông miễn chấp, nghĩa là chẳng chấp thủ), tức là cái khả năng
biết kiểm soát và làm chủ được tâm trí ḿnh theo như ư muốn. Thí
dụ như khả năng nh́n bất cứ sự vật nào mà chẳng so đo phân biệt là
đẹp hay xấu, là dễ thương hay đáng ghét: thấy vật đẹp, chẳng cho
là đẹp; mà thấy vật xấu chẳng cho là xấu; cùng xem mọi vật chẳng
đẹp, chẳng xấu, b́nh đẳng như nhau. Khả năng đó giúp ta kiểm soát
hoàn toàn được tâm trí ḿnh khiến cho ḿnh giữ được sự tỉnh giác
thường hằng và có tâm b́nh đẳng đứng trước các vật đối tượng bên
ngoài như h́nh sắc, âm thanh, huơng vị, xúc giác. Sự tỉnh giác,
tính hằng hay biết và b́nh đẳng tâm đó là những thần thông (iddhis)
được gọi là thần thông vô lậu (anàsavà iddhis) và thần thông miễn
chấp (anuppadhikà iddhis) (chẳng có sự chấp thủ, bám níu vào), các
thần thông nầy mới thật đáng cho ta lưu tâm đến chúng.
Các loại thần
thông hữu lậu và chấp thủ (sàsavà iddhis với upadhilkà
iddhis), nếu muốn thi triển được, cần phải có sự tập luyện rất
khó khăn, đ̣i hỏi nhiều nỗ lực nhọc mệt. Chúng cũng có thể được
thực hiện đàng hoàng, nhưng chỉ do một số ít người mà thôi; ngoài
ra có nhiều biến loại khá phức tạp, xem ra chỉ là những mưu mẹo
hoàn toàn phỉnh gạt, đôi khi lại c̣n lạm dụng đến các bùa chú, phù
phép nữa.
Ngược lại, các
loại được gọi là anàsavà iddhis, thần thông vô lậu
và anuppadhikà iddhis, thần thông miễn chấp, đều nằm trong
khả năng luyện tập của đa số mọi người, khiến cho sự tỉnh giác và
b́nh đẳng tâm được phát triển, mới thật là các thần thông
đáng được người Phật tử quan tâm và tập luyện. (*)
[*- Người dịch xin
chơn thành sám hối với Pháp Sư diễn giả, v́ chẳng dịch đúng theo
nguyên văn bốn đoạn chót của bài pháp về Thần thông, mà chỉ
lấy ư trong bài ra viết lại. (Thiện Nhựt).]
* * *
Giờ đây, ta bàn
đến vấn đề:
43.- "Hạnh phước và Đau khổ bắt nguồn từ đâu?"
Thường được nghe
nói rằng, Hạnh phước và Đau khổ bắt nguồn từ Nghiệp cũ
(Kamma). Đó là câu trả lời thiếu đúng đắn nhứt. Đau khổ là
những ǵ đă khởi lên do nguyên nhơn và điều kiện; các nguyên nhơn
và điều kiện đó có rất nhiều loại, nhiều hạng, nhiều thứ khác nhau,
như: vô minh (si mê) là một nguyên nhơn; khát ái là một nguyên
nhơn; nghiệp lực cũng cùng là nguyên nhơn nữa. Nay bảo rằng
Đau khổ bắt nguồn từ nghiệp lực, ta phải nghĩ đến cái
nghiệp hiện tại, ngay trong đời nầy, tức là sự si mê, sự khát
ái, sự tham luyến, đang c̣n "mới toanh" đây. Xin hăy suy gẫm về
các yếu tố đó có trách nhiệm gây ra Đau khổ, là cội nguồn của sự
khởi sanh ra Đau khổ. Chúng ta phải nhận định ra là nghiệp lực
cũ chẳng thể chống chọi lại với nghiệp lực mới, bởi v́
chúng ta đang nắm trong tay quyền lực tạo nên nghiệp mới.
Nơi câu hỏi số 14, chúng ta đă biết nghiệp lực mới, cái
nghiệp loại thứ ba, có khả năng dẹp bỏ được hoàn toàn nghiệp cũ.
Nghiệp cũ bao gồm cả thiện nghiệp và ác nghiệp.
Chẳng c̣n có loại nghiệp cũ nào ngoài hai thứ vừa kể.
Tuy nhiên, nghiệp mới có thể là một trong (hai) loại nghiệp
(thiện và ác) đó, và là nghiệp thứ ba; nghiệp thứ ba nầy
chẳng ǵ khác hơn Con Đường Bát Chánh Đạo. Khi chúng ta
khiến cho Con Đường nầy rộng mở trước mặt ta và dấn bước đi theo
nó, Con Đường đó sẽ đàn áp và triệt tiêu loại nghiệp thứ nhứt và
loại nghiệp thứ hai. Nếu chúng ta sống hoàn toàn đúng theo Bát
Chánh Đạo, tức là đang chấm dứt triệt để các lậu hoặc, th́
nghiệp mới (do Bát Chánh Đạo tạo nên) sẽ tràn ngập đến và chôn
vùi hết cả hai ác nghiệp và thiện nghiệp của
nghiêp lực cũ. Nói cách khác, nghiệp cũ (gồm loại thứ
nhứt và thứ hai) chẳng chống cự nổi với Nghiệp mới (là loại
nghiệp thứ ba).
Do vậy, chúng ta
phải nên quan tâm đến cái điều mà ta gọi là "Con Đường Bát Chánh
Đạo" đó. Trước đây, tôi có nói đến con đường đó như thế nào, nếu
ta đi theo ngă thông thường mà tu tập, và phương pháp thực hành
như thế nào nếu muốn theo lối tắt (Xin xem lại câu hỏi số 13).
(Nay xin nhắc lại,) Sự thực hành theo con đường tắt là trực tiếp
tự quán sát lấy ḿnh, nhằm mục tiêu dẹp bỏ hẳn sự chụp bắt và bám
níu vào cái ư tưởng về Ta, và những ǵ thuộc về của Ta
(tức là chấp thủ vào Tự ngă và Ngă sở ). Nghiệp lực mới
nầy, thuộc vào loại nghiệp thứ ba, và mạnh mẽ nhứt trong mọi loại
nghiệp. Một khi nó được khởi tạo lên, nó sẽ "bén như gươm đao" và
có thể tiêu diệt được một số thật lớn các nghiệp cũ đă lâu đời.
Đau khổ cũng khởi lên từ nghiệp mới do hoạt động của sự si
mê, khát ái và tham luyến của ngày nay. Các lậu hoặc nầy khởi lên
xuyên qua các việc chúng ta đă tiếp xúc, ngày hôm qua, ngày hôm
kia, với các h́nh sắc, âm thanh, hương vị bên ngoài. Các lậu hoặc
đó có thể bị vẹt bỏ qua một bên, do nghiệp mới mà chúng ta đang
tạo khởi. Đừng để bị phỉnh gạt khi nghĩ rằng chúng đều do nghiệp
cũ gây nên cả. Nghiệp cũ có thể t́m thấy lại qua một chuỗi dài các
nguyên nhơn (đă qua), mà trong hiện tại chúng ta có thể quét sạch
được. Xin đừng quên rằng nghiệp mới rất mănh liệt, nó có
thể vô hiệu hoá hoàn toàn và triệt để
nghiệp cũ.
* * *
Giờ đây, chúng ta
xét tiếp đến vấn đề:
44.- "Tại nơi nào, ta có thể chấm dứt được đau khổ?"
Chúng ta chẳng
chấm dứt hết đau khổ tại trong tu viện, nơi rừng vắng, tại gia
đ́nh, hay trên núi. Chúng ta phải chấm dứt đau khổ, ngay tại chính
nơi nguyên nhơn sanh ra đau khổ. Điều chúng ta cần phải làm là t́m
cho ra đau khổ đă gây ra hằng ngày ở nơi ta bằng cách nào và do từ
cội nguồn nào nó đă sanh khởi. Rồi chúng ta phải cắt đứt ngay
ngưồn gốc đó. Sự đau khổ của ngày hôm qua đă diễn ra và đi qua rồi.
Nó chẳng thể nào trở lùi lại được; nó đă được giải quyết. Chính sự
đau khổ ngày nay, ngay giờ phút nầy, mới là vấn đề. Sự đau khổ của
ngày mai c̣n chưa phải là vấn đề; chỉ có sự đau khổ đang khởi diễn
ngay phút nầy là cần phải được dập tắt. Vậy th́, phải dập tắt ngay
ở chỗ nào đây? Dập tắt ngay nơi nguồn gốc của nó. Chúng ta cần học
tập về đời sống cho đến khi nào nhận thức được, như lời Đức Phật
đă nói, rằng đau khổ chỉ
sanh khởi lên do sự chụp nắm và bám níu
(do sự chấp thủ).
Thường được nghe
tuyên bố hùng hồn, nhưng hơi mơ hồ rằng, sanh, già và chết là đau
khổ. Nhưng sanh chẳng là khổ, già chẳng là khổ, chết cũng chẳng là
khổ, khi mà chẳng có sự bám chặt vào sự sanh, già, chết để bảo
rằng "tôi sanh", "tôi già", "tôi chết". Vào giờ phút ấy, chúng ta
chụp nắm sự sanh, già và chết để lấy đó làm "của Ta". Nếu ta chẳng
chụp bắt, chúng chẳng thể là đau khổ được, v́ chúng chỉ là những
sự thay đổi của tấm thân mà thôi. Khi thân thể thay đổi như vầy,
ta liền bảo là "sanh"; thay đổi thế kia, lại bảo là "già", thay
đổi thế nọ, cũng bảo là "chết", và chẳng nh́n thấy ra được (cho rơ
ràng) đó chỉ là sự thay đổi về thân thể. Chúng ta xem đó như thật
có sự sanh, già, chết và hơn thế nữa, lại gọi dó là "Ta sanh", "Ta
già", "Ta chết". Đấy là một sự si mê đa dạng: tiên khởi là "Ta" là
si mê thứ nhứt, kế đến thấy sự thay đổi của thân thể rồi bảo "Ta
sanh", hoặc "Ta già", đấy là si mê thứ hai. Chúng ta chẳng nhận ra
nổi đó chỉ là sự biến đổi của thân thể. Giờ đây, nếu chúng ta vừa
nhận thấy đó chỉ là thân thể đổi thay, th́ "sanh", "già", "chết"
đều biến mất, và cái "Ta" cũng lặn luôn biệt dạng cùng một lúc.
Chẳng c̣n có "Ta" nào nữa, (lấy ai mà chịu Khổ đây?), th́ t́nh
trạng nầy chẳng phải là đau khổ.
Đức Phật nói: "Sanh
là khổ, già là khổ, chết là khổ." Đa số dân chúng đều hiểu lầm lời
nói đó. Họ trỏ vào t́nh trạng sanh, t́nh trạng già, t́nh trạng
chết như là đau khổ. Vài người chẳng thể giải thích được tại sao
cả. Vài người, ngập ngừng và lưỡng lự, cắt nghĩa một cách mù mờ và
ham hồ, ậm ờ lẫn tránh. Đó là v́ họ quên mất lời Đức Phật nói:
"Năm thủ uẩn, khi bị bám
níu, là đau khổ." (Sankhittena pancupàdànakkhandhà dukkhà).
Năm uẩn là thân và tâm; chúng hợp
chung lại thành con người. Nếu có sự chụp bắt và bám níu vào chút
ǵ được xem như là "Ta", hoặc là "của Ta", tức th́ năm uẩn là đau
khổ. Năm uẩn ấy là một gánh nặng, là một cội nguồn của đau khổ.
Bên trong chúng là lửa, là diêm sinh. Vậy th́, năm uẩn đó, nếu
liên hợp với sự chấp thủ (=nắm bắt và bám níu) th́ là đau khổ.
Giờ đây, giả sử
như năm thủ uẩn đó đang ở trong t́nh trạng "già". Nếu tâm ta chẳng
chụp nắm và bám níu vào chúng như "già", hoặc như "Ta già", th́
chúng chẳng thể sẽ là đau khổ. Ta sẽ xem thân nầy như rỗng vắng,
cảm thọ nầy như rỗng vắng, tri giác nầy như rỗng vắng, các hành
động cố ư nầy như rỗng vắng, và tâm thức nầy như rỗng vắng. Ta sẽ
thấy được cái toàn thể đó đang trôi chảy và cuốn xoáy, chuyển hoá
mọi thứ thành ra rỗng vắng. Chẳng bám níu, chẳng thể nào đau khổ
được. Đó là trường hợp của ngũ uẩn thanh tịnh (pancakkhandha,
năm uẩn, năm tập họp, tách khỏi sự bám níu). Đó là năm uẩn của
vị A la hán, hay đúng ra, đó là những ǵ mà ta giả thiết để gọi là
năm uẩn của một vị A la hán. Bởi v́, thật ra, với một vị A la hán,
chẳng thể được (phép) mô tả vị ấy như đang làm sở hữu chủ của năm
uẩn, nhưng chúng ta muốn nh́n phỏng vào các uẩn kia như là nơi
chứa đựng các đức tánh của quả vị A la hán vậy. Tâm trạng ấy (của
bực A la hán) chẳng thể nào nắm bắt và bám niú vào năm uẩn như là
"của Ta"; tuy nhiên chúng ta vẫn phỏng đoán để gọi chúng là "năm
uẩn tinh khiết" (pancakkhandha ) của một vị A la hán.
Dập tắt đau khổ
tại nơi nào? Chúng ta phải loại trừ đau khổ ngay nơi nguồn gốc của
nó, tức là nơi sự chụp bắt và bám níu vào sự vật. Đau khổ do tham
luyến sự giàu có, cần loại trừ đau khổ ngay trong sự tham luyến đó.
Đau khổ do sự chụp bắt và bám níu vào các ảo tưởng về quyền lực,
về thể diện, về danh dự và tiếng tăm, cần loại trừ đau khổ ngay
trong sự nắm bắt và bám níu đó. Rồi th́ sự giàu có, quyền uy, và
oai thế tự chúng chẳng thể là đau khổ được. Cho nên, ta nên tỉm
ngay nơi nào đau khổ khởi lên và dập tắt nó ngay tại chỗ đó. Thơi
xa xưa, các bực cổ đức lăo luyện về Chánh pháp thường nói: "Theo
ngơ nào nó đi lên, cứ đem nó xuống theo ngơ ấy."
* * *
Giờ đây, tôi muốn
bàn luận về điều thường được gọi là
"thật sự biết rơ":
45.- "Khi gọi là "thật
sự biết rơ", ta cần phải biết rơ đến mức nào?"
Tôi thiết tha mong
mỏi các bạn chú tâm lưu ư đến lời nói của Đức Phật mà tôi sắp
trích dẫn ra sau đây. Đức Phật bảo rằng, để thật sự hiểu biết rơ
ràng về sự vật ǵ, ta cần biết rơ năm điều về sự vật đó. Đó là:
1.- Đặc tánh của
sự vật đó là những ǵ?
2.- Sự vật đó khởi lên từ đâu?
3.- Vị ngọt quyến rũ (assàda) của sự vật đó là ǵ?
4.- Nguy cơ bất lợi (àdinava) dấu kín của sự vật đó là ǵ?
5.- Lối thoát (nissarana) khỏi sự kềm kẹp, cạm bẩy do sự
vật đó chăng ra là ǵ?
Do đó, muốn
thật sự hiểu biết rơ ràng về việc ǵ, ta phải trả lời năm câu
hỏi sau đây:
Thứ nhứt: Đặc
tánh của nó là ǵ?
Thứ hai: Nguồn gốc, sanh quán của nó là ǵ?
Thứ ba: Sức quyến rũ (assadà) của nó ra sao?
Thứ tư: Nguy cơ tác hại (àdinava) của nó là những ǵ?
Thứ năm: Lối thoát (nissarana) khỏi thế lực của vật đó là
ǵ?
Có cả thảy năm câu.
Nếu bạn nghiên cứu bất cứ vật nào dưới năm quan điểm đó, bạn sẽ
vượt qua và thắng được vật ấy. (...) Nhưng nếu chẳng nghiên cứu
theo năm quan điểm đó, bạn sẽ bị chế ngự bởi các sự vật, nghĩa là,
bởi thế giới. Nếu chúng ta nghiên cứu thế giới theo năm quan điểm
đó, th́ chẳng có cách nào mà chúng ta lại bị thế giới chế ngự. Cho
nên chúng phải thận trọng trong việc nghiên cứu thế giới. Tại sao
ta phải nghiên cứu? V́ mục đích tối hậu nào mà ta nghiên cứu? Nếu
chúng ta muốn nghiên cứu việc xây dựng hoà b́nh cho thế giới,
chúng ta nên tỏ ra thật thận trọng. Sự nghiên cứu của chúng ta sẽ
chẳng đem lại kết quả ích lợi nào cả, nếu chúng ta chẳng căn cứ
trên nguyên tắc vừa nói của Phật học.
Có lẽ, các bạn
chưa từng nghe nói đến các tiếng assàda (vị ngọt cám dỗ),
àdinava (nguy cơ tác hại), và nissarana (lối vượt
thoát), mặc dầu trong Tam Tạng Kinh Điển ta thấy chúng nhan nhản.
(...) Khi Đức Phật muốn đem chia xẻ kiến thức chơn thật về điều ǵ,
Ngài chỉ dạy theo đường lối đó. Đôi khi Ngài rút ngắn lại và chỉ
xét đến ba điều chót thôi. Bản chất của sự quyến rũ (assàda)
của nó là ǵ? Bản chất của tính tác hại (àdinava) của nó là
ǵ? Mỗi vật đều có vừa đặc tánh hấp dẫn, vừa đặc tánh tác hại, bản
chất của lối vượt thoát (nissarana) khỏi vướng mắc vào nó,
khéo chiến thắng được nó, là ǵ?
Người ta thường
bảo, có một lưỡi câu dấu kín trong miếng mồi treo thả ở đó.
Assàda, sức quyến rũ, chính là miếng mồi béo bở đang dụ dỗ con
cá phải đớp. Cái lưỡi câu dấu kín là àdinava, tức là sức
tác hại độc ác, ngầm, nằm phục sẵn bên trong miếng mồi. Và
nissarana là kỹ thuật khéo léo để phá hỏng mưu lừa của lưỡi
câu và miếng mồi. Con cá phải có phương cách ăn mồi như thế nào mà
chẳng mắc lưỡi câu. Miếng mồi ngon móc ở lưỡi câu, khi đă bị phá
rối mất vai tṛ nhử cá của nó rồi, sẽ trở thành một miếng thự phẩm
tốt để được cá ta vui đớp mà chẳng mắc câu.
Thế nên, ta phải
biết cách nh́n thế giới nầy dưới năm quan điểm nói trên. Một
phương diện của thế giới, assàda, miếng mồi ngon quyến rũ
ta cho tới khi ta mải mê đắm đuối trong ấy đến nổi tai điếc mắt
ngơ với mọi việc khác. Nhưng c̣n có cái lưỡi câu bên trong. Những
ai đă vướng mắc vào thế giới rồi th́ chẳng thể thoát ly ra được;
họ đắm ch́m sâu vào thế giới, nghĩa là, trong sự đau khổ. Riêng có
bực thánh giả (ariyans, hạng người đă tiến xa trên
đường tu tập) mới biết nh́n thấy rơ, nhận ra được thế nào là
cám dỗ (assàda), thế nào là sức tác hại ngầm (àdinava),
và đâu là lối vượt thoát (nissarana). Các vị ấy có đủ khả
năng để sống trong thế giới, "đớp mồi" của thế giới mà chẳng vướng
lưỡi câu. Các vị ấy biết rơ mỗi vật, để luôn luôn ư thức về cả năm
điều: đặc tánh, nguồn gốc (samudaya), mồi cám dỗ (assàda),
lưỡi câu nguy hiểm (àdinava) và chiến lược (nissarana).
Nay ta muốn t́m hiểu thật sự rơ ràng, th́ đối với mỗi vật,
ta phải học hỏi và biết tất cả năm yếu tố đó, hay ít nhứt là ba
yếu tố sau cùng.
Chẳng kể là vật
nào ta tiếp xúc trong cuộc học tập, hay trong các hoạt động khác,
ta đều nên áp dụng đầy đủ nguyên tắc trên đây. Rồi ta mới biết
phân biệt như thế nào để gặt hái được phần thưởng to lớn nhứt mà
chẳng bị tổn thương. Đấy là điều được gọi là "thật sự hiểu biết
rơ ràng". Khi hành động dựa trên sự thông suốt đó, việc tu tập
theo Chánh pháp sẽ dễ dàng và bỏ các lậu hoặc lại đằng sau. Nh́n
thế giới dưới nhăn quan của năm quan điểm, ta sẽ thấy thế giới
tràn đầy quyến rũ (assàda) phía bên ngoài, c̣n bên trong ăm
ắp nguy cơ (àdinava). Ta sẽ có cái nh́n về thế giới như là
một sự gian lận, một sự giả mạo, một sự lường gạt, một ảo ảnh, và
chẳng để ḿnh bị móc vướng vào đó, hay ch́m đắm say mê trong đó.
Một tâm hồn, được trí huệ sáng chói chiếu soi, khi đối trước cảnh
vật: h́nh sắc, âm thanh, hương vị, xúc chạm và đối tượng tâm linh,
sẽ nh́n chúng dưới cặp mắt đứng đắn đă sành thạo về năm yếu tố nêu
trên. Tâm tư ấy chẳng để cảnh vật chế ngự ḿnh, và chẳng hề để cho
sự khát ái và tham luyến được phát triển nghiêng về ngă kiến. Tự
do sẽ trở thành t́nh trạng b́nh thường, ngày lại ngày. Sau cùng,
việc tu tập theo Chánh pháp để hướng về Niết bàn chẳng c̣n quá tầm
tay nữa.
* * *
Giờ đây, tôi sẽ
đặt câu hỏi như sau:
46.- "Thế nào là "Nhập
Lưu", hay được bước vào "Ḍng Nước Niết Bàn"?"
Xin mời bạn nhớ
lại chữ Niết bàn (Nibbàna) theo nghĩa chúng ta đă bàn luận,
tức là điều tốt lành tối cao mà nhơn loại có thể chứng đắc được,
nơi câu hỏi số 30. Nếu trong cuộc đời của ai mà c̣n chưa biết đến
trạng thái gọi là Niết bàn, hoặc chưa từng nếm được hương vị của
Niết bàn, cuộc đời đó kể như đă uổng phí.
Nói đến"Ḍng
nước Niết bàn" là nói đến một tiến tŕnh đă tới giai đoạn chắc
chắn là chỉ trôi chảy hướng về Niết bàn. Ḍng nước đó chảy
xuôi theo chiều đến nơi tận diệt khổ đau, chẳng thể ngược ḍng
quay lại với các khổ nạn hoặc đẩy xô vào các Cảnh giới thảm sầu
và dữ ác. Chúng ta gọi đó là Ḍng (The Stream). (*)
[* - Tạm dịch chữ
The Stream là Ḍng; nói cho đầy đủ có lẽ phải nói là
Ḍng nước Thánh. (Thiện Nhựt ghi chú thêm).]
Người đă bước vào
Ḍng (Ḍng nước Thánh) là bực Nhập Lưu, hay Dự
Lưu (Sotapanna), c̣n gọi là
Tu đà huờn.
Bực Tu đà huờn th́ chưa chứng đắc
hoàn toàn cảnh giới Niết bàn. Vị Dự Lưu (Stream enterer,
kẻ bước vào Ḍng) chứng được
Ditthadhamma nibbàna, "Niết bàn tại
đây và bây giờ"; (Xin xem
lại câu hỏi số 28), hoặc là Tadanga nibbàna, "Niết bàn trùng
ngẫu" (coincidental Nibbàna, do sự gặp gỡ ngẫu nhiên),
hay là bất cứ loại Niết bàn nào thích hợp với trường hợp ḿnh.
Nhưng một khi đă bước vào Ḍng thật sự rồi, th́ chẳng c̣n vướng
bận với các assàda (quyến rũ) và àdinava (nguy cơ
ngấm ngầm) (xem như là mồi thơn và lưỡi câu) của thế
giới nữa. Thế giới chẳng bao giờ c̣n có thể trở lại gạt gẫm được
bực ấy nữa. Điều đó chẳng có nghĩa là, chẳng hạn như, phải từ bỏ
hết mọi liên hệ với thế giới, hoặc chẳng được dung dưỡng các thú
vui nhục dục. Nó chỉ có nghĩa là, tâm của vị ấy đă bắt đầu
nh́n các điều vừa kể chẳng đáng để cho ḿnh chụp nắm và bám níu
vào nữa, (...) mặc dầu đôi khi vị ấy cũng c̣n lỡ lầm, v́ thiếu
tỉnh giác.
Muốn chứng đắc quả
Dự Lưu, phải dẹp bỏ được ba món "xiềng xích", gọi là ba kết sử
(sanyojana), gồm có: (1) thân kiến (sakkàya ditthi) là
sự chấp chặt vào Tự ngă, xem tự ngă là một thực thể thường
hằng; (2) nghi ngờ (vicikicchà) và (3)
mê tín dị đoan (ślabbata paràmàsa,
giới cấm thủ). Bỏ thân
kiến là bỏ được một loại si mê; bỏ được nghi ngờ là bỏ được một
loại si mê khác; bỏ được mê tín dị đoan lại là bỏ được một loại si
mê thứ ba. Vị Tu đà huờn c̣n chưa dẹp bỏ sắc ái (kàma raga,
tham luyến về nhục dục) là kết sử thứ tư. Ngay cả vị
Tư đà hàm (Sakidàgami, Nhứt Lai,
quả vị thứ hai, cao hơn
bực Tu đà huờn hay Dự Lưu là sơ quả hay là quả vị đầu tiên), cũng
c̣n chưa dứt được sắc ái. Điều nầy có nghĩa là, dầu chưa dứt được
sắc ái, nhưng chẳng phải là té lọt hẳn vào hố tham nhục dục. Mặc
dầu vẫn c̣n tiếp xúc hay dung dưỡng nhục dục, nhưng bực nầy đă
loại bỏ được xong thân kiến, nghi ngờ và mê tín. Đấy là tiêu chuẩn
để cho vị nào đă bước vào "Ḍng nước Niết Bàn" tin chắc rằng ḿnh
sẽ tiếp tục tiến măi lên để hướng về Niết bàn chính hiệu.
Như thế, chỉ là
vấn đề dẹp bỏ sự hiểu biết sai lầm. Ta phải dẹp bỏ sự hiểu biết
sai lầm trước khi diệt trừ hẳn sắc ái (kàma ràga), tức là sự tham
luyến về nhục dục. T́nh dục chưa phải là một vấn đề nguy hiểm và
ghê gớm, hay là một kẻ thù. Điều ghê gớm là sự si mê. Trong Kinh
Tạng, có đoạn kinh nói rằng, điều thối tha nhứt là một tâm tư cố
bám chặt vào tự ngă. Đức Phật chẳng chỉ vào t́nh dục để coi như
một vật thối tha nhứt; Ngài lại trỏ ngay vào sự si mê. Chúng ta
thường có khuynh hướng ước lượng quá cao và định giá trị quá cao
về tầm mức mà một vị Tu đà huờn đă thôi chẳng dính dấp vào t́nh
dục. Khi tiêu chuẩn đă được quan niệm một cách lầm lẫn, th́ toàn
thể h́nh ảnh sẽ trở thành méo mó và chẳng cách nào khiến sự việc
đưa đến thoả thuận với nhau được. Do đó, điều thiết yếu là chúng
ta phải hiểu rơ điều ǵ cần làm, ở giai đoạn đầu tiên khi bước vào
"Ḍng nước Niết bàn". Điều cần phải thực hiện đó, đâu phải là dẹp
bỏ t́nh dục, mà chính là sự si mê phải được dẹp bỏ trước nhứt.
Thân kiến
hay ngă kiến (sakkàya
ditthi) là sự tự kỷ hướng tâm (self centredness), như thường
xảy ra hằng ngày, là do sự thiếu sót đă chẳng nhận thức được
tánh không (sunnatà, sự rỗng vắng) dầu chỉ bằng một cách nhận
thức thật thô sơ đi nữa. Tâm tư bị che mờ và chẳng được tự do; do
đó nên mới có sự tin tưởng sai lầm về cái "Ta", tức là thân kiến,
hay là ngă kiến. Vậy muốn trở nên một vị Tu đà huờn, ta phải dứt
khoát, một lần và măi măi, dẹp bỏ cái ư tưởng chấp vào "Ta", cái "ngă
thân kiến" đó. Trong cuộc sống hằng ngày với sự tiếp diễn thông
thường của các sự việc xảy ra, ngă kiến khởi lên rồi diệt đi, lại
khởi lên rồi diệt đi nữa... Mỗi ngày, ngă kiến có mặt nhiều lần,
khởi lên, khởi lại luôn. Nhưng cũng có nhiều lúc ngă kiến vắng mặt.
Chúng ta cần phải quán sát kỹ, để xem như thế nào là đang có ngă
kiến, như thế nào là thoát khỏi chẳng có ngă kiến. Khi có sự tự kỷ
hướng tâm, đó là (đang có) thân kiến hay ngă kiến,
sakkàya ditthi.
Giờ th́ đến
vicikicchà, là sự nghi ngờ hay sự do dự về điều nào phải được
xem là chắc thật, sự phân vân có nên tin tưởng hay không vào Đức
Phật, sự dùng dằng chẳng biết có nên tu tập để tiêu diệt đau khổ
một cách hoàn toàn và tuyệt đối, trên b́nh diện siêu thế hay không.
Bởi v́ c̣n do dự, cho nên ta c̣n chưa có đủ sự quan tâm cần thiết
đến Chánh pháp. Thật khó thấy có hứng thú để chú tâm đến Chánh
pháp dầu chỉ trong năm phút! Thế mà ngay trong những việc như diễu
cợt, cười đùa, ăn và uống, nghiên cứu và học tập, hành nghề và
kinh doanh, lại có thể làm giờ nầy qua giờ khác, trọn cả ngày. Nếu
thời giờ dùng để diễu cợt và cười đùa được đem ra xử dụng để
nghiên cứu Chánh pháp (một cách thích thú), th́ việc thông suốt
Kinh kệ sẽ đến với ta mau chóng hơn. Trong các loại do dự, quan
trọng bực nhứt là sự lưỡng lự chẳng chịu quyết định xem là tốt hay
xấu về việc chấp nhận và tuân hành theo phương cách do Đức Phật
dạy để dập tắt mọi khổ đau. Thiếu quyết tâm để dấn bước lên Con
Đường Đạo đi tới sự tận diệt khổ đau, đó là một vấn đề thật thiết
yếu và là một nguy cơ rất trầm trọng. Đa số dân chúng xem viễn ảnh
(tu tập) đó thật là thiếu cả hương vị, mất cả khoái cảm, chẳng
chút toại ư, và vắng sự hấp dẫn, cũng bởi v́ họ đă quá say đắm các
cám dỗ của thế gian. V́ vậy, sự do dự cần phải quét sạch. Chúng ta
bị đau khổ khống chế, th́ phải quyết tâm t́m cách chấm dứt nó.
Kết sử thứ ba là
ślabbata paràmàsa, mê tín dị đoan "kinh niên", (giáo lư
Bắc tông gọi là giới cấm thủ ). Hăy tự quan sát và bạn sẽ
thấy, trong cử chỉ, thái độ của bạn đă có sẵn loại mê tín kinh
niên. (Từ bé,) bạn được dạy dỗ, mấy con rắn mối vô hại kia và loài
ḅ sát tương tợ, đáng ghê sợ lắm, đến nổi việc sợ mấy con thú hiền
lành đó thành thói quen nơi bạn. Đấy là một mê tín, vừa cổ lỗ vừa
ấu trĩ. Bạn được nuôi dưỡng trong sự tin tưởng rằng các ngôi nhà
cổ kính có thần thánh linh thiêng: một mê tín dị đoan khác. (...)
Sự tuân hành một cách cứng rắn (và câu nệ) theo các qui điều (đă
lỗi thời) về đạo đức, trong hàng tăng lữ cũng như trong giới tại
gia, đó cũng là một loại mê tín nữa. (...)
Xin các bạn kiên
nhẫn nghe tôi kể thêm một thí dụ nữa về loại kết sử thứ ba, có
liên quan đến Bốn Cảnh Giới Thảm Ác. Các cảnh giới nầy được vẽ
trên tường các chùa chiền: cảnh giới điạ ngục, cảnh giới súc sanh,
cảnh giới ngạ quỉ (petas) và cảnh giới a tu la (asuras,
các vị thần phi thiên). Bốn cảnh giới nầy đưọc gọi là Bốn Cảnh
Giới Thảm Ác (sầu thảm và dữ ác). Thường nghe giảng rằng, khi chết
đi, ta có thể bị rơi vào bốn cảnh đó, nên ta tin lắm. Nhưng chẳng
có ai giảng cho ta nghe, hằng ngày ta thường lâm vào các thảm
trạng. Các thảm trạng nầy có thật và c̣n quan trọng hơn bốn cảnh
điạ ngục, súc sanh, ngạ quỉ và a tu la trên tường nhà chùa kia.
Nếu ngày nay, chúng ta chẳng sa vào một thảm cảnh nào, th́ sau khi
chết, làm ǵ chúng ta lại sa vào bốn cảnh giới thảm ác nói trên.
Điều nầy chẳng đuợc đem ra giảng, nên dân chúng c̣n chưa hiểu được
ư nghĩa căn bản về Bốn Cảnh Giới Thảm Ác. Đức Phật đâu phải là một
nhà duy vật; Ngài chẳng lấy tấm thân vật chất làm tiêu chuẩn tham
chiếu, có đâu lại nói giống theo như các câu chuyện địa ngục vẽ
trên tường với lắm thây ma bị nấu sôi lên (...) trong các chảo
đồng! Đức Phật đă lấy "tâm" làm tiêu chuẩn tham chiếu.
* * *
47.- "Ư nghĩa của bốn
Cảnh giới Thảm ác là ǵ?"
Cảnh giới thứ nhứt
là điạ ngục. Điạ ngục có ư nghĩa là lo âu. (Theo tiếng Thái, điạ
ngục là "trái tim nóng bỏng"). Mỗi khi ta đang thể nghiệm sự lo âu,
nóng bỏng hay cháy xém, đồng thời ta tái sanh làm một chúng sanh
nơi cảnh địa ngục. Đó là một sự tái sanh tự phát, một cuộc tái
sanh tâm linh. Mặc dầu thân thể vật chất nầy đang ở nơi cơi nhơn
gian, nhưng khi lo âu vừa khởi lên, th́ tâm đă rơi vào điạ ngục.
Lo âu v́ ngại có thể bị mất uy tín và danh tiếng chẳng hạn, hay
bất cứ lo âu thuộc loại nào -- đó là địa ngục đấy.
Rồi đến sự tái
sanh vào cảnh giới súc sanh, đó chỉ là sự ngu độn. Tỏ ra quá khờ
khạo, ngu độn về một việc ǵ: ngu, khi chẳng biết Chánh pháp và
Niết bàn là điều đáng qúi; ngu, khi chẳng dám đến gần với Phật học;
ngu, khi tin rằng kẻ nào tu tập theo Chánh pháp hay lưu tâm đến
Phật học là hạng người hủ lậu và kỳ cục. Trẻ con , và ngay cả
người lớn, đều nghĩ như vậy, và họ lánh xa Chánh pháp cùng tôn
giáo. Đó là sự ngu mê. Chẳng kể ngu mê về loại nào, sự đần độn
cũng tương đương với sự tái sanh làm súc sanh (thú vật). Hễ khi sự
ngu mê vừa khởi lên và làm tràn ngập tâm trí ai, tức th́ kẻ ấy trở
nên hạng súc sanh; đó là sự tái sanh tự phát, một cuộc tái sanh
tâm linh. Đấy là cảnh giới thảm ác thứ hai.
Cảnh giới thảm ác
thứ ba là hoàn cảnh của loài ngạ qủi (petas, qủi đói), loại
chúng sanh ma quỉ bị đói khát kinh niên, bởi v́ sự đ̣i hỏi của
chúng luôn luôn vượt quá sự cung ứng phẩm vật. Đây là t́nh trạng
đói khát kinh niên về tâm linh, chẳng phải đói về thức ăn. Thí dụ
như, (...) có người muốn được một ngàn đồng, vừa được một ngàn lại
muốn mười ngàn, rồi trăm ngàn, cho đến cả triệu mà vẫn c̣n chưa
măn ư. Đây là trường hợp chạy đuổi theo măi mà chẳng bao giờ bắt
gặp; có đầy đủ triệu chứng của bịnh đói kinh niên. Lại c̣n giống
với loài ngạ quỉ đói khát, bụng to như ḥn núi mà miệng lại nhỏ
như lỗ kim. Phần nội nhập để tiêu thụ chẳng bao giờ vừa đủ cho cơn
đói, nên mới luôn luôn là
qủi đói. Đối ngược với
ngạ qủi là người, (...) dầu được hai mươi xu cũng tốt mà chỉ
có mươi xu cũng đành ḷng. Nhưng bạn đừng v́ thế mà vội nghĩ rằng,
ưng dạ như thế có nghĩa là thôi chẳng c̣n muốn t́m cầu vật ǵ nữa.
Trí thông minh dạy ta những ǵ cần nên làm và làm ngay việc đó một
cách đứng đắn. Bằng cách đó, ta thấy thích thú thoả măn, mỗi khi
đuổi theo sự vật ǵ. Ta thưởng thức sự t́m cầu và (cảm thấy) được
măn nguyện sau đó. Đấy là lối sống chẳng thành ngạ quỉ, nghĩa là,
chẳng mắc bịnh đói kinh niên. Đuổi theo sự vật nào với ḷng khao
khát, là thành ngạ quỉ. Đuổi theo sự vật một cách thông minh chẳng
phải là có bụng đang thèm thuồng; bởi thế, chẳng được xem đó như
là cảnh qủi đói, mà chỉ là giản dị làm những việc ǵ cần phải làm
mà thôi.
Ước vọng chẳng
phải là khao khát, nhứt là ước vọng muốn dập tắt hết đau khổ. Bạn
chớ nên đi nói với kẻ khác rằng (...) ước vọng là khao khát, là
tham lam. Khao khát hay tham lam khởi lên do có sự si mê đần độn.
Ước vọng chứng đắc Niêt bàn có thể là sự khao khát, nếu được đuổi
theo với sự rồ dại, sự mê đắm, hay sự hănh diện. Theo học khóa
thiền mà chẳng hiểu thiền là ǵ cả th́ là khát vọng và tham lam;
chính sự si mê đó đưa tới đau khổ v́ đầy những chụp nắm và bám níu.
Tuy nhiên, nếu một người có ước vọng chứng đắc Niết bàn, sau khi
đă cảm nhận một cách rơ ràng và thông minh, thế nào là đau khổ,
cùng phương cách theo đó để diệt tận khổ đau, và với một tâm trạng
sẵn sàng và thật ḷng học tập đứng đắn về thiền định và minh triết,
th́ ước vọng về Niết bàn đó đâu phải là khát vọng tham lam, đâu
phải là đau khổ. (....). Vậy th́, (...) nếu ước vọng bắt nguồn từ
sự si mê hay một lậu hoặc nào khác, hoặc các triệu chứng giống với
bịnh đói kinh niên -- hằng theo đuổi mà chẳng hề bắt được -- th́
đó là (....) cảnh giới thảm ác của ngạ quỉ, một lối tái sanh (tâm
linh) tự phát.
Cảnh giới Thảm ác
chót là cơi a tu la (Asuras, loại yêu thần, qủi thần,
nhát gan). Trước hết, xin giải nghĩa chữ Asura: sura
là can đảm; asura là chẳng can đảm, nhát gan, khiếp nhược.
Vậy th́, khi nào ai đó trở nên nhát gan chẳng có lư do, kẻ ấy đang
tái sanh, một cách tự phát động, vào cảnh giới a tu la. Nhát sợ
loài rắn mối vô hại, loài đa túc, loài trùn là lo sợ vô cớ và cũng
là một h́nh thức của đau khổ. Sợ hăi một cách chẳng cần thiết,
hoặc sợ hăi một điều ǵ v́ đă quá lo nghĩ đến, cũng là tái sanh
làm a tu la một thứ. Ai cũng sợ chết, nhưng nỗi lo lắng đó được
nhơn lên trăm vạn lần v́ ḿnh phóng đại quá đáng về nguy cơ sẽ
chết.
Lo âu dày ṿ con
người, ngày lẫn đêm. Sợ sẽ lọt xuống địa ngục và đang sợ như vậy
là đă thành một a tu la mất rồi. Hoá cho nên, con người đang tái
hạ sanh vào trong Bốn Cơi Thảm Ác hằng ngày, hằng tháng, lại hằng
năm. Nếu ta biết hành động đúng đắn và chẳng để lâm vào các thảm
trạng xem như Bốn Cơi Thảm Ác, ngay lúc nầy, th́ sau khi chết đi,
chúng ta đâu có phải rơi lọt vào Bốn Cơi đó, như đă được vẽ trên
tường tại các chùa chiền.
Cách giải thích
Bốn Cơi Thảm Ác như trên phù hợp với ư nghĩa và mục đích giảng dạy
của Đức Phật. Các sự tin hiểu sai lầm về Bốn Cơi Thảm Ác phải nên
được xem như là mê tín dị đoan. Điều đáng thương hại nhứt cho các
Phật tử là đường lối giải thích sai lầm lời giáo huấn của Đức Phật
và việc đem ra thực hành một cách thiếu hẳn sự thông minh. Chẳng
cần phải đi t́m các mê tín dị đoan ở đâu xa; ngay trong Kinh Tạng
cũng đă có nhiều đoạn mô tả những giáo phái tu theo hạnh con ḅ,
con chó, nhan nhản ở Ấn độ, vào thời Đức Phật. (...) Các sự mê tín
dị đoan đó cần phải dẹp bỏ mới có cơ bước vào Ḍng Nước Niết bàn.
Bực Tu đà huờn, hay là Dự Lưu (Stream Enterer, Dự Lưu; dự=bước vào,
lưu=ḍng nước), đă dẹp bỏ được sự tin tưởng sai lầm vào một thực
thể bản ngă thường hằng, sự nghi ngờ, và sự mê tín dị đoan, để
bước vào ḍng nước Thánh và chứng được pháp nhăn, đôi mắt nh́n
thông suốt Chánh pháp và được tự do, giải thoát khỏi sự si mê.
Xin các bạn ghi
nhớ rằng, thường nhơn chúng ta ai cũng c̣n ít nhiều si mê và vọng
tưởng dưới h́nh thức ngă kiến, nghi ngờ và mê tín. Chúng ta cần
bước lên một bực và đả phá sạch ba mối si ám đó để có thể đặt chơn
bước vào "Ḍng nước Niết bàn". Từ điểm đó trở đi, sẽ có một sự
tuôn chảy theo dốc cao đổ xuống rất thuận tiện để hướng về Niết
bàn, tựa như một ḥn đá rơi lăn từ sườn núi. Nếu bạn muốn trở nên
quen thuộc với Niết bàn, bước vào ḍng nước Thánh, và thẳng tiến
đến bờ Niết bàn, tất nhiên bạn cần hiểu rơ ba mối kết sử đó phải
được dẹp bỏ xong, trước khi ta diệt trừ được tham sắc ái và sân
hận là hai kết sử cao hơn và vi tế hơn. Bước vào ḍng nước Thánh
là buông bỏ xong ba h́nh thức si mê (thân kiến, nghi và giới cấm
thủ); lại cũng có nghĩa là dẹp xong sự tự kỷ hướng tâm, sự do dự
(...) và các mê tín cố hữu. Sự dứt bỏ nầy có giá trị phổ quát và
ứng dụng cho tất cả mọi người trên thế giới.(...) Người vừa dẹp
xong ba món kết sử đó liền trở thành bực Hiền trí, bực
Thánh giả (Ariya, bực Thánh). Khi đă tự cải thiện và
tiến lên đến nấc cao nhứt trong hàng thường nhơn, ta vẫn phải vượt
lên nữa, cho đến giai đoạn mà chẳng c̣n ngơ nào khác hơn là bước
vào "Ḍng Nước Niết bàn", trở nên bậc Tu đà huờn. Rồi lại cứ thẳng
tiến, thuận theo ḍng măi mà cặp bến vào Niết bàn.
Khi tu tập nhằm
lánh xa việc chấp thủ, sự tự kỷ hướng tâm (self centredness), và
vọng tưởng, ta phải nên quán chiếu rằng mọi sự vật đều chẳng đáng
cho ta chụp nắm và bám níu vào. (...) Vậy th́, ngay trong giờ phút
nầy, mỗi người trong chúng ta, tùy theo tŕnh độ, hăy bắt đầu lưu
tâm ngay đến việc khước từ tham luyến. Nếu chẳng may, bạn thi rớt,
chẳng cần phải khóc than; hăy quyết tâm bắt đầu lại đi và nỗ lực
hết ḿnh. C̣n nếu bạn thi đậu, th́ cũng đừng vui mừng quá bồng bột;
tưởng nên xem đó là việc thường ở đời. Được như thế đó, đấy là có
khởi lên sự hiểu biết về việc chẳng chụp nắm và bám níu vào (kết
quả thi cử) đó.
Khi đi thi, các
bạn nên quên chính các bạn đi. Nên nhớ điều đó nhé! Khi bắt đầu
làm bài thi, bạn phải quên bạn đang là chính bạn. Hăy quên cái
việc "Ta" đang bị khảo sát và "Ta" sẽ đậu hay rớt. Bạn có thể nghĩ
sẵn trước làm cách nào để thi cho đậu và lập kế hoạch thi hành
việc đó, nhưng đến khi bạn bắt đầu viết, bạn phải nên quên hết các
điều đó đi. Chỉ giữ lại sự định tâm, nó sẽ giúp bạn xuyên thấu qua
các câu hỏi và (chóng) moi ra câu trả lời. Một tâm trí, dẹp sạch
được cái "Ta sẽ đậu hay rớt", lập tức trở nên thanh tịnh và linh
hoạt. Nó nhớ thật mau và suy nghĩ sắc bén. Do vậy, ngồi thi với sự
định tâm đúng mức sẽ mang đến kết quả tốt. Đó là biết cách ứng
dụng thế nào là nguyên tắc cit waang, tâm không, (cit
waang, từ ngữ Thái, nghĩa là giữ tâm rỗng vắng, chẳng có ngă
kiến), một nguyên tắc Phật học về sự chẳng chụp nắm và bám níu (vào
cái "Ta"), vào trường hợp đang ngồi thi. Theo cách đó, bạn sẽ được
kết quả tốt.
Những ai c̣n chưa
biết cách dùng kỹ thuật đó th́ thường cảm thấy quá lo lắng là sẽ
thi rớt. Họ trở nên quá căng thẳng, khiến cho chẳng thể nhớ hết
lại được trong trí những điều đă học qua. Họ chẳng viết được các
câu trả lời chính xác và có thứ tự, khiến cho họ phải thi hỏng.
Vài người khác lại quá bồng bột với ư nghĩ "Ta học giỏi, ta sẽ đậu
chắc chắn". Sinh viên nào vướng vào việc bám níu vào cái "Ta"như
thế, chắc là sẽ làm bài thi kém lắm, bởi v́ thiếu cit waang,
tâm không. Mặt khác, người có cit waang, tâm không,
chẳng để cho cái "Ta", cái "cuả Ta" xen vào rối trí, nên chẳng hề
quá lo sợ hoảng hốt hoặc quá tự tín. Chỉ có sự hiện diện của định
tâm, vốn là một năng lực tự nhiên. Hoàn toàn quên hết "ḿnh" đi,
người ấy sẽ thành công. Đó là một thí dụ sơ đẳng, nhưng lại căn
bản nhứt, làm nổi bật các hiệu quả của sự chẳng bám níu và của
cit waang, tâm không.
(Nói đến tâm
không), một người c̣n bị sự si mê che mờ tâm trí, khi nghe nói
đến chữ "Sunnatà", trong thời thuyết pháp ở giảng đường các
chùa, liền dịch là "sự hư vô, sự rỗng vắng hoàn toàn". Cách dịch
đó là một lối giải thích duy vật và là điều mà nhiều nhóm người đă
hiểu sai nghĩa của chữ đó như thế.
Chữ "Sunnatà"
của Đức Phật có nghĩa là sự vắng mặt của bất cứ sự vật ǵ mà
ta nên chụp bắt và bám níu vào coi như một thực thể thường trú,
hay là cái "tự ngă", mặc dầu về phương diện vật lư, tất cả
đều có đó trong sự toàn vẹn đầy đủ của mọi sự vật. Nếu chúng ta
chụp bắt, th́ liền có sự đau khổ (dukkha); nếu chúng ta
chẳng chấp thủ, th́ liền có sự thoát khỏi đau khổ. Thế giới nầy
được mô tả như rỗng vắng, bởi v́ chẳng có bất cứ ǵ mà chúng ta
được quyền chụp nắm. Chúng ta phải nên đương đầu với thế giới rỗng
vắng đó với một tâm trạng chẳng chụp nắm lấy. Nếu chúng ta muốn
một vật nào, chúng ta phải nên đuổi theo vật đó với một tâm trạng
chẳng chấp thủ, để rồi có được vật mong muốn mà nó chẳng hề trở
thành một nguồn gây ra đau khổ.
Hiểu lầm ư nghĩa
của vỏn vẹn một chữ "rỗng vắng" đó, là một sự mê tín (ślappata
paràmàsa, giới cấm thủ, bám vào sự tin tưởng sai lầm) và tạo
nên một trở ngại to lớn cho người (tu hành) bước vào "Ḍng Nước
Niết bàn". Do đó, chúng ta nên t́m hiểu cho thật đúng đắn và đầy
đủ nghĩa của chữ "rỗng vắng" và các chữ khác được Đức Phật dùng.
Ngài mô tả thế giới nầy như rỗng vắng bởi v́ chẳng có chi ở trong
đó mà ta có thể xem như là có "ngă" hay là "tự ngă" cả. Trả lời
câu hỏi của Vua Mogha, Ngài bảo: "Nên luôn luôn xem thế giới nầy
như là cái ǵ rỗng vắng. Nên luôn luôn xem thế giới nầy và các vật
chứa trong đó như là cái ǵ rỗng vắng." Khi nh́n thấy nó rỗng vắng,
tâm thức tự động vứt bỏ sự chụp bắt và bám níu. Rồi làm sao mà xảy
ra được sự tham luyến, sân hận và si mê? Làm được như thế đó, là
bực A la hán. Nếu ta c̣n chưa thành công làm được như thế đó, ta
cũng phải tiếp tục cố gắng măi, (để rồi) mặc dầu vẫn c̣n là một
thường nhơn tầm thường, nhưng sẽ ít bị đau khổ hơn. Bao lâu mà ta
giữ được tâm không, cit waang, th́ đau khổ chẳng thể khởi
lên được. Bất cứ lúc nào ta bị quá kích thích và có sơ sót,
th́ liền có lại sự đau khổ ngay. Nếu chúng ta canh chừng cẩn mật,
tạo sự rỗng vắng (của ngă kiến) càng ngày càng nhiều và lâu bền,
chúng ta sẽ thấm nhập thâm sâu vào cốt tủy của Phật học, và sẽ
biết đến "Ḍng Nước Niết bàn."
* * *
Giờ đây, c̣n đôi
chút th́ giờ, tôi xin nêu câu hỏi chót:
48.- "Lời giáo huấn
cuối cùng của Đức Phật là ǵ?"
Như mọi người đều
biết, một người sắp chết thường lập bản chúc ngôn, trối lại các
lời dặn cuối cùng. Khi Đức Phật sắp mất, Ngài thốt lên các lời nói
chót như sau: "Tất cả các sự vật hỗn hợp đều phải suy tàn. Phải
luôn luôn tỉnh thức!" Muôn sự vật chẳng qua chỉ là một sự trôi
chuyển, nghĩa là, chúng rỗng vắng (chẳng có tự ngă). Muôn sự vật
đều vô thường (anicca), chúng biến đổi chẳng ngừng, chúng
trôi chuyển chẳng dứt. Luồng trôi chuyển đó chẳng có tự ngă hoặc
những ǵ thuộc về tự ngă. Hăy thận trọng và luôn luôn sẵn sàng.
Nói cách khác, đừng tỏ ra khờ dại, đừng trở nên đắm say sự vật, và
đừng xem sự vật nào đáng để chụp nắm và bám níu vào. Đừng xao lăng
mà tham luyến vào bất cứ sự vật ǵ. Đấy là ư nghĩa của chữ "tỉnh
thức" mà Ngài muốn dạy. Với sự tỉnh thức đó, chúng ta sẽ được
trang bị đầy đủ luôn luôn.
Thanh thiếu niên
ngày nay là cả một vấn đề! Hăy xem họ đă hoàn toàn xao lăng đến độ
nào. Họ coi mọi sự vật như hết sức khả ái, rất đáng được chụp nắm
và bám níu vào. Chấp chặt vào sự vật xem như khả ái hay khả ố,
cuối cùng rồi cũng là nguồn gốc gây ra sự phiền muộn cho ḿnh và
cho kẻ khác. Đó là những người chẳng làm đúng theo lời trối của
Đức Phật. Họ đang làm uổng phí lợi ích được sanh ra làm người và
làm con cái của mẹ cha theo đạo Phật. (...)
Tất cả chúng ta,
trẻ cũng như già, đều có đầy đủ khả năng để tuân theo lời giáo
huấn tối hậu của Đức Phật. Hăy nên nh́n thế giới nầy như chẳng hề
có cái "Ta" hoặc những ǵ "thuộc về của Ta". Tâm tư ta sẽ dứt bỏ
được sự chấp thủ; tham lam, sân hận và si mê chẳng thể c̣n khởi
lên được. Như thế, chúng ta sẽ thực hiện được điều cao qúi nhứt
của nhơn loại. (...)
Đức Phật c̣n dạy
một lời giáo huấn cuối cùng nữa: "Hăy đi khắp bốn phương và truyền
giảng Chánh pháp, vi diệu ở phần đầu, phần giữa và phần chót." Tôi
muốn diễn giải câu nầy như là đang truyền lịnh cho tất cả chúng ta
phải nên giảng dạy về sự chẳng chấp thủ (chẳng chụp nắm và bám níu)
ở bực sơ đẳng cho các trẻ con, bực trung đẳng cho người lớn, và ở
bực cao đẳng, cấp tiến nhứt cho những ai đă đạt đến Trạng thái Tối
cao và những người mà chẳng c̣n đ́ều chi là đáng quan tâm nữa cả.
Đức Phật chỉ chỉ dạy có sự chẳng chấp thủ mà thôi, không điều ǵ
khác. Ta có thể mang ra giảng ở mọi tŕnh độ, cho trẻ con, cho
người trung niên và cả cho lớp tuổi già. Hay là ta c̣n có thể hiểu
lời nói của Đức Phật một cách khác hơn nữa, là đem Chánh pháp ra
truyền giảng ở cấp thấp, cho những người c̣n sống trên thế giới
nầy; rồi đến cấp trung gian, cho những ai ở các thế giới khác; và
sau cùng, v́ lợi ích tối cao, để siêu thoát cơi thế tục.
Toàn thể tinh tuư
của Giáo pháp có thể tóm lược vào việc giải thoát khỏi khổ đau qua
sự chẳng chấp thủ (chẳng tham luyến).
Do đó, sự chẳng
chụp nắm và bám níu, sự vắng bóng của mọi tư tưởng về cái "Ta" và
những ǵ thuộc về của "Ta" sẽ là đề tài quan trọng vào bực nhứt
được đem ra giảng dạy. Xin mỗi bạn ghi đậm vào tâm trí ḿnh chỉ
mỗi một chữ, một chữ duy nhứt có thể phát lộ toàn thể Chánh pháp,
chữ waang (của Thái Lan) (=rỗng vắng, trống không, tự do),
tương đương với chữ Pali là Sunnatà (Tánh không) -- đó là
cốt lơi, là tinh túy của Phật học. Người ta phạm vào các điều răn
của đạo đức chỉ v́ thiếu cit waang, tâm không ( tâm thức
vắng bóng ngă kiến). Nguời ta thiếu sự định tâm, chỉ v́ chẳng có
được cit waang, tâm không. Người ta chẳng có trí huệ, chỉ
v́ chẳng có cit waang, tâm không. Đức Phật có cit waang,
tâm không. Cit waang, Tâm không, đó chính là quả vị Phật.
Chánh pháp giản dị chỉ là sự chỉ dạy về cit waang, tâm không,
sự tu tập để đưa đến cit waang, tâm không, kết quả của
sự thực tập cũng là cit waang, tâm không, và rốt ráo là
Niết bàn. Tăng già là tập đoàn các tu sĩ tuân theo hệ thống
giới luật của Đức Phật, cũng tu tập để chứng đắc được cit waang,
tâm không. Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, có thể qui kết gọn lại
trong chữ cit waang, tâm không. Ta thành công trong việc
tuân phục các điều răn đạo đức qua sự từ khước chẳng chụp nắm và
bám víu, qua sự giải thoát khỏi các lậu hoặc. Khi cit waang,
tâm không, đă được chứng đắc, các vọng tưởng si mê đều được
tiêu trừ và định tâm đạt tới mức tối hảo. Khi ta đă bắt đầu biết
nh́n vào mọi sự vật trong thế giới nầy đều rỗng vắng, ta chẳng c̣n
chụp bắt và bám níu vào chúng nữa th́ trí huệ minh triết sáng chói
đến với ta. Đạo và Quả của Niết bàn gồm có sự thông suốt được
tánh không và việc lần lượt gặt hái kết quả của sự rỗng vắng
đến mức tuyệt đỉnh. Bố thí, tŕ giới, quy y Tam Bảo (Phật, Pháp,
và Tăng), Định, Huệ, Đạo với Quả, và Niết bàn, tất cả các điều đó
có thể tóm tắt lại trong một chữ waang (rỗng vắng).
Đó là v́ sao Đức
Phật đă nói: "Sự rỗng vắng chính là điều Như Lai chỉ dạy. GIáo lư
nào mà chẳng đề cập đến sự rỗng vắng là giáo lư của kẻ khác, một
giáo lư chẳng chính thống đă do một kẻ đồ đệ hậu bối nào đề xướng.
Tất cả những kinh kệ do Như Lai giảng đều thâm sâu, có nghĩa lư
sâu xa, là phương sách để có thể siêu việt cơi thế gian, và bàn
luận nhứt về Tánh Không (Sunnatà, sự rỗng vắng)."
Mặt khác, Đức Phật cũng nói: "Một bài pháp, bất cứ thuộc loại nào,
dầu được thốt lên từ một thi sĩ hay một người hiền triết, dầu được
viết thành văn vần, đầy thi vị, hoa mỹ, du dương mấy đi nữa, nếu
chẳng có liên quan đến tánh Không (Sunnatà), th́ c̣n chưa
theo đúng Chánh pháp." Như thế, có hai loại bài thuyết giảng giáo
lư; loại nào nói đến Tánh Không, Sunnatà, th́ đó là đúng
theo lời giảng của Đức Phật; c̣n loại chẳng bàn đến sự rỗng vắng,
đó là những luận văn của người sau.
Do đó, ta thấy Đức
Phật xem Tánh Không, Sunnatà, và các bài pháp thuyết giảng
về Tánh Không, là tinh túy chơn thật của Phật giáo. V́ vậy
mà Ngài mới nói: "Khi giáo lư về Tánh Không, Sunnata, đă "chết"
(suy tàn) rồi và chẳng c̣n ai quan đến nữa, th́ bấy giờ bản chất
thật sự của Chánh pháp hoàn toàn bị đánh mất."
Đấy cũng tựa như
cái trống của các triều vua ḍng Dasàraha vào thời cổ, được truyền
lại từ thế hệ nầy sang thế hệ sau. Cùng với thời gian cái trống đă
cũ nát, nó được vá đi vá lại thật nhiều lần, trải qua nhiều năm
tháng, nhiều đời, cho đến khi trên mặt trống chỉ thấy c̣n những
vật liệu mới mà thôi. Cái nguyên chất thật sự của nó đă hoàn toàn
biến mất.
Khi cái ngày mà
các tỳ kheo chẳng c̣n lưu tâm đến việc nghiên cứu và nghe bàn luận
đến các đề mục có liên quan đến Tánh Không, Sunnatà, nữa --
điều mà đáng lư họ phải cố công học tập và thực hành, th́ vào thời
buổi đó, ta có thể nói rằng cái bản chất nguyên lai của Phật giáo
đă hoàn toàn mất hẳn, và chỉ c̣n lại những chất liệu mới, những
lời bàn của các giáo đồ hậu bối mà thôi, cũng giống như điều đă
xảy ra cho cái trống kia vậy. Xin các bạn hăy suy gẫm điều đó! Đức
Phật thúc dục chúng ta truyền giảng Chánh Pháp, vi diệu ở phần đầu,
phần giữa và phần chót, trên b́nh diện của sự chẳng chấp thủ (chẳng
chụp nắm và bám níu). Nhưng Phật học hiện nay đang vào t́nh trạng
nào? Có giống với cái trống cũ khi xưa hay là chỉ toàn những mảnh
vá mới? Chúng ta có thể tự t́m hiểu lấy, bằng cách quan sát xem
trong các hàng Phật tử, có c̣n ai lưu tâm đến và thực tập theo
tánh không, (Sunnatà) nữa hay không.
Đấy là những lời
giáo huấn cuối cùng của Đức Phật dành cho các đệ tử của Ngài: tinh
tấn tu tập giáo pháp của Ngài, truyền giảng giáo lư của Ngài và
chấn hưng các nguyên liệu đă trở nên suy vi để trở lại t́nh trạng
tươi mới, bằng cách nghiên cứu Tánh Không, Sunnatà. Thực
hiện các điều đó, th́ cần phải đào sâu, trắc nghiệm, nghiên cứu và
thảo luận cho đến khi nào sự thông suốt về giáo lư Tánh Không
đó được khởi sắc trở lại; và bấy giờ mới có thể nói rằng chất
liệu "thứ"thiệt" (chánh thống) đă phục hồi lại được t́nh trạng
nguyên thuỷ.
* * *
KẾT LUẬN
Chúng ta đă tóm
lược Giáo pháp lại dưới h́nh thức những tiểu đề mục, sắp xếp lại
để có thể hiểu dễ dàng và tiện ghi nhớ, cùng với các lời trích dẫn
trong Kinh Tạng. Tôi hi vọng rằng các bạn sẽ chẳng chóng quên được
các điểm đă bàn luận vừa qua như chúng đă minh chứng các chơn lư
căn bản mà các bạn cần giữ trong kư ức và chúng là những nguyên
tắc tổng quát để xử dụng trong việc phán đoán và quyết định về các
vấn đề đủ loại mà các bạn sẽ đối phó trong tương lai. Đức Phật có
nói, nếu có sự nghi nan về một điểm nào, chúng ta nên đối chiếu
lại với các nguyên tắc tổng quát. Nếu một đề án khả nghi nào xét
thấy chẳng phù hợp với các nguyên tắc tổng quát, phải bác bỏ nó
như chẳng phải là một giáo lư của Đức Phật. Kẻ nào đề xướng ra như
thế, đă lầm nhận nó và đem ra giảng dạy một điều lầm lẫn. Ngay cả
khi y quả quyết rằng đă được nghe từ Đức Phật; một chữ, bạn cũng
đừng tin vào lời y. Nếu một lời tuyên bố chẳng phù hợp với các
nguyên tắc tổng quát, nghĩa là, chẳng đúng theo Kinh Tạng (Suttas
) và Luật Tạng (Vinaya), bạn hăy bác bỏ nó như chẳng
phải là lời Đức Phật nói. Giáo lư của Đức Phật là chẳng chụp nắm
và bám níu (chẳng chấp thủ), tánh không (sunnatà), vô ngă (anatta,
chẳng có tự ngă), và những ǵ chỉ thuộc về nguyên tố, chớ chẳng
phải thuộc về chúng sanh, cá nhơn, tự ngă, Ta, anh ấy hay chị đó.
Nơi miền quê, tại
quận nhà của tôi, người ta thường phải học thuộc ḷng bài kệ ngắn
tiếng Pali sau đây, ngay vào ngày đầu tiên họ bước chơn vào cổng
chùa để xin đi tu:
Yathà paccayam
pavattamanam dhàtumattamavetam
Dhàtumattako, nissatto, nijjivo, sunno.
(...)
Họ c̣n chưa được
chỉ dạy phải lễ lạy tượng Phật như thế nào, đọc kinh niệm chú, hay
tham dự các khoá lễ buổi sáng, công phu buổi chiều. Họ cũng chưa
được học các thủ tục cần thiết trước khi làm lễ thọ giới. Nói cách
khác, những người mới chơn ướt chơn ráo vào chùa để đi tu, đă được
trang bị ngay với các kiến thức cao siêu, tinh túy của Phật học,
đúng vào ngày họ đến xin xuống tóc. Hiện nay, tôi chẳng biết cái
tập tục đó c̣n giữ lại ở nơi nào; hay là, các người mới đến có
hiểu được bài Kệ trên đây không, thật tôi chẳng biết nữa. Nhưng mà
cái mục tiêu của tập tục nầy (theo tôi,) thật là tuyệt diệu! Nó
tuyệt diệu v́ ngay ngày đầu tiên, đă mang ra hiến tặng, cho người
sắp đi tu, điều tinh tuư nhứt của Đạo Phật:
Yathà paccayam
là: muôn vật, do duyên
sanh, đều vô ngă;
Dhàtumattamevetam là:
chúng chỉ là nguyên tố (tứ đại), tức là chẳng riêng có cái tự
ngă;
Nissatta,
nijjivo, sunno là: chúng
rỗng vắng, chẳng có cá nhơn tánh, thiếu vắng cái tự ngă.
Đấy là điều mà họ
được chỉ dạy ngay buổi đầu, nhưng con cháu của họ đă để cho tập
tục đó tiêu diệt mất. Ai phải lănh lời trách cứ đây, khi mà cái
ngày ư niệm về tánh không, sunnatà, chẳng c̣n được t́m hiểu
đến, và chẳng c̣n lưu giữ chút chi về nền Phật học nguyên thủy nữa?
Tôi hi vọng buổi
nói chuyện nầy đem lại đôi chút khích lệ đến các bực hiền giả để
suy gẫm, trầm tư phần nào, và giúp nuôi dưỡng cùng duy tŕ nền
Phật học.
V́ lợi ích cho hạnh phước và hoà
b́nh cho thế giới, xin các bạn hăy quên mất đi cái "Ta" của ḿnh!
* * *
THAM CHIẾU KINH
ĐIỂN
Các lời nói của Đức Phật được
trích trong các bộ kinh sau đây, theo số thứ tự của các câu hỏi (từ
số 1 đến số 48) trong bài pháp:
1.- Majjhima Nikàya,
Alagaddùpama Sutta (# 22)
3.- Majjhima Nikàya, Cùla tanhà sankkheya Sutta (# 37)
5.- Anguttàra Nikàya, Catukka nipàta, Rhohitassa vagga (#
45)
6.- Majjhima Nikàya, Alagaddùpama Sutta (#22)
7.- Samyutta Nikày, Mahàvàra vagga, LV, vi, 3,
8.- Samyutta Nikàya, Mahàvàra vagga, XLV, i, 76.
9.- Anguttara Nikàya, Pancaka nipàta, Ngựi Chiến binh (#
79)
10.- Majjhima Nikàya, Cùla saccaka Sutta (# 35)
11.- Anguttara Nikàya, Tika nipàta, Mahà vagga, Kalama
Sutta (# 65)
12.- Anguttara Nikàya, Tika nipàta, Giác ngộ, (#
103)
13.- Majjhima Nikàya, Salàyatana vibbanga Sutta (# 137)
14.- Anguttara Nikàya, Tika nipàta, Devadatta vagga (#33);
Anguttara Nikàya, Catukka nipàta, Kamma vagga (# 234)
15.- Anguttara Nikàya, Tika nipàta, Puggala vagga (# 22)
16.- Anguttara Nikàya, Catukka nipàta, Sancetana vagga (#
180)
17.- Anguttara Nkàya, Tika nipàta, Brahmana vagga (# 356)
18.- Anguttara Nikàya, Catukka nipàta, Uruvela vagga (#356)
19.- Itivuttaka III, v, iii.
20.- Digha Nikàya, Mahà vagga, Mahàparinibbàna Sutta (# 16)
21.- Sutta nipàta, Parayana vagga, Vatthugàthà.
22.- Majjhima Nikàya, Cùla sunnatà Sutta (121)
23.- Patisambhidà magga, Yoganaddha vagga, Sunnn kathà.
24.- Saddhammappajjptikà, Phần I.
25.- Patisambhidà magga, Pannà vagga, Vipassanàkathà.
26.- Anguttara Nikàya, Navaka nipàta, Mahà vagga (# 36).
27.- Anguttarà Nikàya, Navaka nipàta, Mahà vagga (# 41)
28.- Anguttara Nikàya, Navaka nipàta, Pancàta vagga (# 51);
Anguttara Nikàya, Satta nipàta, Abyàkata vagga (# 52)
29.- Majjhima Nikàya, Bhaddàli Sutta (#65)
31.- Digha Nikàya, Mahà vagga, Mahaparinibbàna Sutta (# 16)
34.- Udàna, Cùla vag. VII, 1&2; Angutt N.,Sutta nipàtqa,
Abyàkata (#53)
37.- Majjhima Nikàya, Angulimàla Sutta (# 86)
39.- Itivuttaka, I, iii, 7
40.- Anguttara Nikàya, Navaka nipàta, Sihanàda vagga (# 20)
41.- Itivuttaka, III, iv, 4
48.- Digha Nikàya, Mahà
vagga, Mahàparinibbàna Sutta (# 16).
* * *
Vài nét
về tác giả
Tỳ kheo Phật Lệ,
Buddhadàsa Bhikkhu (Nô lệ
của Đức Phật) xuất gia năm 1926, khi vừa đúng hai mươi tuổi. Sau
vài năm theo học ở Bangkok, Người quay về sống với thiên nhiên, để
nghiên cứu Phật Pháp, và thành lập Suan Mokkhabalàràma (Khu vườn
của Năng lực Giải thoát) - thường được gọi tắt là Suan Mokkh
- vào năm 1932, ở gần quê nhà. Vào thời đó, ở miền Nam nước Thái,
những trung tâm chuyên dạy thực tập Thiền Minh sát rất ít oi.
Tiếng đồn về Tỳ kheo Phật Lệ và công tác của Người ở Tùng Lâm Suan
Mokkh chẳng bao lâu đă lan khắp nước và được xem đó như là một
trong những biến cố quan trọng về lịch sử Phật giáo ở Thái lan.
Xin lược kể lại sau đây một vài công đức mà Người đă cung hiến cho
nền Phật học.
Ajahn Buddhadàsa
đă dầy công phát hiện và giải thích các nguyên tắc căn bản của
Phật giáo nguyên thủy. Công phu nầy dựa trên sự thâm cứu của Người
về các Kinh văn Pali (Tam Tạng Kinh Điển và các Chú Giải), nhứt là
phần Kinh Tạng, cộng thêm các kinh nghiệm tu tập và chứng nghiệm
của Người về các giáo lư đó. Rồi Người truyền dạy lại những ǵ mà
Người có thể nói là thật sự dập tắt đau khổ, dukkha. Chí
nguyện của Người là tạo nên một hệ thống tham chiếu kinh điển đầy
đủ để giúp cho các công cuộc khảo cứu hiện nay và mai sau. Phương
cách tiến hành sự nghiên cứu của Người luôn luôn có tánh cách khoa
học, chơn trực và thực tiễn.
Mặc dầu sự học vấn
thế tục của Người chỉ đến lớp bảy và khoá sơ đẳng về Pali, Người
được các viện Đại học Thái lan long trọng trao tặng đến năm văn
bằng Tiến sĩ Danh dự. Tác phẩm của Người, vừa sáng tác, vừa chuyển
tả từ các buổi pháp đàm của Người, đă chiếm một căn pḥng lớn
trong Thư viện Quốc gia và có ảnh hưởng rộng lớn đến các Phật tử
thuần thành của Thái lan. Các phần tử tiến bộ trong xă hội Thái,
nhứt là giới trẻ, rất hứng khởi trước lời giáo huấn và nhứt là
trước tấm gương vong kỷ của Người. Từ dạo năm 1960 trở đi, các
thành phần tranh đấu và các lư thuyết gia, trong các địa hạt giáo
dục, an sinh xă hội, phát triển nông thôn đă mang ra ứng dụng các
lời giáo huấn và khuyến cáo của Người.
Kể từ khi thành
lập Tùng lâm Suan Mokkh, Người đă nghiên cứu tất cả mọi hệ phái
của Phật giáo, cũng như các tôn giáo lớn trên thế giới. Sự lưu tâm
của Người có tánh cách thực tiễn hơn là nặng về từ chương, sách vở.
Người t́m cầu sự kết hợp với nhau giữa những hạng người thật sự
chơn tu để giúp nhơn loại thoát khổ bằng cách tận diệt ḷng vị kỷ.
Tâm hồn khoáng đạt đó của Người đă đưa đến gần bên Người, nhiều
bằng hữu và sinh viên theo Cơ đốc giáo, Hồi giáo. Ấn giáo, Sikhs,
v.v. khắp nơi trên thế giới.
Hiện Người tập
trung nỗ lực vào dự án chót là thành lập một Trung tâm quốc tế ẩn
tu Phật pháp. Cùng với Tùng lâm Suan Mokkh, Trung tâm nầy nhằm
cung cấp phương tiện cho:
- các khoá nhập
môn, dành cho các thân hữu Thái và ngoại quốc, về chơn lư thiên
nhiên được giảng trong giáo pháp của Đức Phật và làm quen với hệ
thống luyện tập tâm linh của Phật giáo;
- các cuộc hội
họp giữa các đại diện của các cộng đồng tôn giáo khác nhau ở
Thái (và sau đó, trên thế giới) để thảo luận và phát triển sự
thông cảm lẫn nhau và hợp tác v́ lợi ích hoà b́nh cho thế giới;
- các cuộc hội
thảo giữa các Phật tử trên thế giới để luận bàn và chấp nhận về
"Trái Tim của Phật học". (...)
Người rất hân hoan
đón tiếp các quí khách.
* * *
Vài nét về
dịch giả (Anh ngữ)
Ông Rod Bucknell
bắt đầu quan tâm đến Phật học vào khoảng giữa những thập niên
1960, trong một chuyến viếng thăm Thái lan và được giới thiệu về
các kỹ thuật hành tŕ Thiền Minh sát.
Sau khi đă sống
một năm trong vài trung tâm thiền học và tu viện ở Thái lan, ông
xuất gia, thọ giới tỳ kheo, dưới sự hướng dẫn của Ngài Ajahn
Pannananda tại Wat Cholapratan ở Rangsarit. Tỳ kheo Ariyananda (pháp
danh của Bucknell) sớm quan tâm đến các lời giáo huấn của Ajahn
Buddhadàsa, và nhận thấy tiềm năng lợi ích đến cho người Tây
phương, nên bắt đầu phiên dịch các tác phẩm quan trọng của Ngài
Phật Lệ (Buddhadàsa) sang Anh ngữ. Trong khoảng thời gian bốn năm
sống trong Tăng đoàn Thái, tỳ kheo Ariyananda đă dịch xong sáu tác
phẩm , dài có ngắn có, của Ajahn Buddhadàsa, và thường hay tham
khảo ư kiến của Ajahn để việc chuyển dịch các ư niệm căn bản của
Phật học được hoàn toàn chính xác.
Mặc dầu nay đă
quay về đời sống thế tục, ông Bucknell vẫn giữ mối liên hệ chặt
chẽ với Ajahn Buddhadàsa -- cả về phương diện học thuật lẫn thực
tiễn . Ông thường cộng tác với các tạp chí và đăng các bài tham
luận về tôn giáo và Phật học.
Hiện nay, ông là
giảng sư thuộc Phân khoa Nghiên cứu Tôn giáo của viện Đại học
Queensland, Úc đại lợi.
* * *
Vài lời xin
thưa thêm
Thà biết ít mà
biết chắc,
Khỏi tu mù, mà chẳng mắc tu lầm!
Tôi đang t́m hiểu
và học tập về Kinh Vô ngă tướng, bản kinh thứ nh́ của Đức Phật
thuyết giảng cho năm anh em ông Kiều trần như tại vườn Lộc Uyển,
bỗng nhận được quà của Đạo hữu Nguyên Khiêm ở San Francisco, gồm
có mấy quyển sách qúi., trong đó có quyển Buddha Dhamma For
Students. Tôi ngưng học bài, để đọc thơ của Đạo hữu. Thấy được
yêu cầu dịch quyển sách trên sang tiếng Việt, tôi hơi ngài ngại.
Nhưng khi bắt tay vào việc, tôi thầm cảm ơn Đạo hữu đă cho tôi một
dịp qúi báu, v́ nhờ đọc qua quyển sách ấy, ngắn gọn và rơ ràng,
mà tôi hiểu được thêm ư nghĩa thâm sâu của lời Đức Phật dạy trong
Kinh Vô ngă tướng. Làm sao nói lên hết được nỗi thâm cảm của tôi
đối với Tác giả bản chữ Thái, Dịch giả bản Anh ngữ và Đạo hữu đă
gởi sách.
Quyển "Phật Pháp
dành cho Sinh viên" của Pháp sư Phật Lệ là một thủ bản tóm lược
rất trong sáng và đầy đủ
những ǵ trong Giáo Pháp mà một người Phật tử cần phải biết và
biết thật chắc. Đấy là chỗ qúi báu của nó. Tôi nghĩ, chẳng cần
phải dùng lời lẽ cao xa nào để tán dương, chỉ cần có người đọc
qua, và hiểu nó được ngay, tất nhiên sẽ thấy rơ ra chỗ cao quí đó.
Tôi hơi tủi phận,
v́ số vốn Anh văn tự học của ḿnh c̣n kém, chữ Hán Việt ḿnh biết
c̣n lỏm bỏm, và nhứt là sức hiểu biết của ḿnh về Phật pháp lại
quá cạn cợt, ngại sẽ vướng vào tội "dịch là phản"( ... lại ư của
tác giả). V́ thế, nơi đây tôi xin thầm chấp tay chơn thành xin sám
hối với Pháp sư, với Dịch giả, về các lỗi lầm trong bản tiếng Việt
nầy. Lại khẩn thiết xin tha lỗi cho tôi đă chẳng dịch hết một vài
nơi, mà chỉ để dấu (...) thế vào đó.
Cầu mong các bạn
thanh niên Việt nam được chia xẻ cùng tôi các lợi lạc tinh thần do
quyển sách nầy mang lại.
Trân trọng có đôi
lời, và nguyện xin học thiệt thuộc lời dạy trong câu chót của
quyển sách: quên phứt cái "Ta" của ḿnh đi!
Montreal, 08-04-2002
Thiện Nhựt.
-ooOoo-
|