|
|
|
Nội dung
1. Tựa
2. Kinh Kàlàma, xin cứu giúp chúng con!
3. Hai thứ ngôn ngữ: nói thường và nói Pháp. |
Tựa
B i kịch của đời sống con
người là một bí ẩn mà chúng ta
đang phải sống. Nguồn gốc căn
bản, ư nghĩa và mục đích của đời sống,
phần đông chúng ta đều chẳng biết được rơ, khiến cho chúng
ta c̣n chẳng sống được trọn
vẹn đầy
đủ và sung sướng. Mặc dầu
chẳng nên và cũng chẳng cần thiết phải như thế, nhưng các quan
kiến méo mó cùng các tư tưởng vượt ngoài ṿng kiểm soát
đă
đưa
đẩy cuộc đời thông thường trở
thành một bí ẩn. Ngay cả cuộc đời mà
mỗi chúng ta cứ gọi là "đời riêng
của tôi", cũng bị che mờ bởi sự hỗn tạp và náo
động của các t́nh cảm, tin
tưởng, ư kiến và hiểu lầm. C̣n chưa hiểu rơ
đời, chúng ta sống một cách thiếu
thích nghi và tương phản với Thiên nhiên và Chơn lư của nó.
Lối sống như thế thật là cằn cỗi, chật chội, nhỏ bé, ích kỷ và
đầy khổ sở. Làm cách sao mà ta
thoát ra khỏi, để đi vào một
cuộc đời thanh lương, an hoà
và hoan hỉ mà ta biết đó là tự
nhiên và đúng
đắn?
Nhiều nhân vật cảm khái rất sâu xa khi
đi t́m cách làm sáng tỏ
được cái bí ẩn
đó và sự khổ
đau bi thảm của nó.
Đức Phật là một trong những
bực ấy, đă thành công hoàn
toàn, cả cho chính Ngài và cho toàn thể nhơn loại. Sự thành công
của Ngài đă xuyên qua sự thực
hiện trực tiếp Chánh Pháp, Chơn lư Thiên nhiên,
để giải thoát tâm ra
khỏi mọi sự khốn khó và các khổ nạn. Như là kết quả tự nhiên của
sự giác ngộ của Ngài, Ngài đă
đặt trọn đời Ngài vào việc
giúp đỡ những kẻ khác được giác
ngộ theo. Theo lời Ngài, "Chánh Pháp
được ta khéo giảng, tựa như dựng đứng lên những ǵ
đă bị lật úp xuống, như mở ra
những ǵ đă bị
đậy kín; nó được tuyên giảng
vang lên; các mép tơi tả đă
được cắt đứt bỏ hết."
Giải thích và vạch rơ con đường
đến với Chơn Lư Thiên Nhiên là tất cả những ǵ mà một chúng
sanh có thể làm cho kẻ khác, nhưng c̣n chưa
đủ giúp ta làm sáng tỏ cái bí
ẩn cuả cuộc đời và t́m ra
được an lạc. Chúng ta c̣n chưa
thành công trong việc t́m hiểu ư nghĩa của tặng phẩm của Ngài. Sự
thất bại đó do bởi các ư kiến
của chúng ta, sự khiếm khuyết tỉnh thức, sự lười biếng, sự lănh
đạm thờ ơ, và v.v... Ch́a khoá
trong tập sách nầy, do đó, nhắm vào
ư định giúp mở ra một con đường quang
đăng, dễ sống theo,
để đưa sự mê mờ và yếu kém của
chúng ta vào được ngơ thông
hiểu đúng
đắn về Chánh Pháp (Chơn Lư
Thiên Nhiên), khiến cho Chánh Pháp trở lại rạng chiếu vào
đời sống, phát hiện bí ẩn của
nó, và dập tắt hết mọi khổ sở (dukkha).
Có năm "ch́a khoá" tại
đây. Chià khóa thứ nhứt là
Kinh Kàlàma (Kàlàma Sutta)
đặt thành căn bản của
thái độ trong Phật học: ta chỉ
tin tưởng vào một điều ǵ, sau
khi đă quan sát kỹ nó, suy tư
cặn kẽ cẩn thận về nó, thử nghiệm nó và tự chính ḿnh, nhận thấy
ra điều ấy đúng. Con đường Phật
giáo về Trí huệ trở nên vô nghĩa cho những ai
đă hờ hững với nguyên tắc
đó; các kẻ ấy biến nó thành
một sự việc khác mất. Ch́a khoá đó
được t́m thấy trong một loạt các bài
đoản luận do Ajahn Buddhadàsa
viết, và được mệnh danh là
"Saccasàra từ thiền viện Suan Mokkh" (chữ sacca có
nghĩa là "Chơn Lư", và chữ sàra có nghĩa chung vừa là "cốt
tủy" vừa là "thông điệp")(...)
Ch́a khoá thứ hai là bài "Hai thứ ngôn ngữ",
được Roderick Bucknell (khi c̣n
là Tỳ kheo Ariyananda), dịch vào năm
1970. (...) Chià khoá thứ ba là bài"Nh́n vào bên trong"
cũng do Roderick Bucknell dịch và
được phổ biến lần đầu. Hai bài
tham luận đó giúp ta cách ứng
dụng các nguyên tắc nêu trong Kinh Kàlàma. Bài "Hai thứ ngôn
ngữ" chỉ rơ cách phân biệt giữa hai cấp bực của ngôn ngữ,
thường quấn quít vào nhau, trong các bài giảng pháp và trong văn
chương. Cả hai cấp bực ngôn ngữ
đó cần phải được nhận chân ra
và thông hiểu sự sai biệt, nếu chúng ta muốn thọ hưởng
được lời giáo huấn của
Đức Phật, và Ajahn Buddhadàsa
đă cho nhiều thí dụ
để có thể làm
đúng được như thế.
Ch́a khoá thứ ba chỉ cho ta cách kiểm soát lại các sự thật
đă
được những kẻ khác dạy ta. Ngay đây,
Đại Đức Buddhadàsa phản
ứng chống lại các khuynh hướng của chúng ta thường
để cho tâm bị thu hút vào các
sự vật bên ngoài, và hướng chúng ta theo
đúng chiều hướng của sự thật
tâm linh. Người nhấn mạnh rằng, chúng ta phải nh́n xa, vượt qua
khỏi sự thật tương đối và
phiến diện để t́m ra
được Chơn lư thực sự. Ch́a
khoá để làm
được như thế là phải biết "hướng
nội". Để giúp ta bắt đầu làm
sự nội quán nầy, Người chỉ cho thấy sự khác biệt giữa việc quan
sát các hiện tượng vật lư bên ngoài và sự quán tưởng các hiện
tượng tâm linh bên trong. Chỉ xuyên qua sự quán tưởng nầy, Chánh
Pháp mới có thể được thực hiện
trực tiếp và một cách độc lập.
"Hạnh phúc và Khát vọng" (Happiness & Hunger) là
ch́a khoá thứ tư, được tôi dịch và
xuất hiện lần đầu năm 1987 trong tờ
nội san "Tiến hoá và Giải thoát" (Evolution/
Liberation) của Thiền viện Suan Mokkh. Mục tiêu của bài tham
luận nầy là làm sáng tỏ thêm động
cơ chủ lực đă thúc
đẩy hành giả nghiên cứu và
thực tập Chánh Pháp. Ta thường có khuynh hướng
đ̣i hỏi ở Chánh Pháp những
điều mà Chánh Pháp chẳng có
chủ đích cung cấp cho.
Đôi khi ta lại đùa giỡn cả với
Chánh Pháp. Với những ai cố đi t́m
hạnh phước, tưởng nên xét lại những ǵ họ
đang thực sự cần
đến, và xem coi Chánh Pháp có
thể cung cấp được cho họ các điều đó
hay không.
Ch́a khoá cuối cùng là bài "Chánh Pháp Chơn Lư về Sự Tịch
Tĩnh và Minh sát vào thời đại nguyên
tử" (The Dhamma Truth of Samatha Vipassanà For the Nuclear
Age), tôi mới vừa dịch gần đây. Bài
tham luận nầy bàn về vài vấn đề quan
trọng thường bị lẫn lộn. Trước hết, lối sống mà
Đức Phật chỉ dạy là một con
đường thống nhứt. Nếu ta tự
tiện cắt nó ra từng đoạn, một cách
ngược với Thiên nhiên, th́ con
đường đó chẳng thể nào vận hành
được. Nếu ta cố t́nh chỉ thực
tập có một khiá cạnh nào đó thôi, th́
ta cũng sẽ chẳng đạt được ngay cả
khiá cạnh ấy, nói chi là trọn con
đường Chánh Pháp. Thứ hai, ta
tự tạo nên các vấn đề khó khăn
và khổ sở cho ḿnh, thời ta phải tự ḿnh giái quyết lấy. Ta
chớ nên để các sự thật cá nhơn
của ta làm cản trở mất con đường của
chơn lư thực sự, có thể đem
đến sự giải thoát cho ta. Sau cùng, ta
đang sống trong một thế giới
càng ngày càng nguy hiểm hơn, ta chẳng có dư th́ giờ
để phung phí. Ta phải nên mẫn
cán, thận trọng và thực tập một cách chân thành.
Nhiều người đă
đóng góp vào công cuộc thực
hiện tập sách nầy, kể từ Ajahn Buddhadàsa với các nhà thông dịch.
Với sự trợ giúp của các pháp hữu đă
ḍ đọc và b́nh luận về các bài
tham luận, tôi đă làm công
việc hiệu đính, nhứt là dung
hợp lại cách hành văn và các
từ ngữ, để cho thông
điệp của Ajahn Buddhadàsa càng
sáng tỏ càng hay.
Sau đó, Rod Bucknell sửa chữa lại
lần nữa, rồi Hội Nghiên cứu và Thực tập Chánh Pháp
đă lo lắng các việc sắp xếp về
kỹ thuật. Và giờ đây bạn có trong tay
tập sách Pháp thí (Dhamma dàna) nầy, hoàn măn
được ước vọng của mọi người.
Sau cùng, ta nên nhắc cho nhớ lại lần nữa rằng,
Đức Phật có nói: "Ta tuyên bố
chỉ có khổ sở (dukkha) và sự dập tắt hết khổ sở mà thôi."
Đây cũng là một ch́a khoá khác,
cũng thật cần thiết, tuy nhiên ta lại thường
đọc tụng, nghiên cứu và "thực
tập" Chánh Pháp với nhiều ước vọng khác trong
đầu, như để đắc được một kinh
nghiệm nầy, một t́nh trạng nọ, hoặc một
đạo quả kia... Mặc dầu
điều Khổ sở nầy
được hàm chứa xuyên qua năm
bài tham luận, ta cũng nên đem
ra bàn luận tại đây về danh
từ Khổ sở (dukkha), với hy vọng là mọi người sẽ
ngưng việc né tránh nó. Tầm quan trọng của Khổ sở trong
đời sống thông thường, cũng
như trong việc thực tập theo Chánh Pháp, có khuynh hướng bị vài
người xem quá nhẹ.
Khổ (Dukkha) có thể
được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhứt, như là một cảm giác của
loài chúng sanh hữu t́nh, và thứ hai, như một
đặc tánh phổ quát của tất cả
hiện tượng. Theo nghĩa thứ nhứt, Khổ (Dukkha)
được giải thích như là "khó mà
chịu đựng nổi, vất vả lắm phải
đương
đầu với". Kinh nghiệm về cái
cảm nhận đó -- nó chẳng phải
là một t́nh cảm -- là nó chẳng hề làm thỏa ư bao giờ, chẳng hề gây
thích thú, hoặc sung sướng chi cả, và có thể
đưa tới thống thiết và ê chề.
Nguyên nhân tạo nên Khổ sở luôn luôn là một h́nh thức nào
của khát vọng, luyến ái, và mê mờ. Theo nghĩa nầy, Khổ sở
có thể được diễn dịch ra như
là "sự đau
đớn, sự khốn
đốn, sự thống thiết, sự bức
xúc (stress)". Sự thực tập
đứng đắn về Chánh Pháp
sẽ phá giải được nỗi Khổ sở
đó, kể từ h́nh thức thô
phù nhứt cho đến các loại
Khổ thật tế nhị mà phần đông con
người c̣n chưa hề thấy đến.
Nghĩa thứ hai, rộng hơn và tế nhị hơn nghĩa thứ nhứt, là "h́nh
thù đáng ghét, xấu xí khi
được nh́n
đến". Khi sự minh triết thâm
viễn phát hiện được thật sự
chúng ra như thế nào, th́ các sự vật chịu
điều kiện hoá (= các pháp hữu
vi) đều được thấy ra như là
chẳng hấp dẫn, xấu xí, đáng ghét,
chẳng đáng tin cậy và hay áp bức. Lối nh́n của chúng ta
luôn khoá cứng vào những ǵ hấp dẫn, nhưng Pháp nhăn lại thấy ra
muôn sự vật đều chỉ là ảo giác,
và dối gạt. Đặc tánh phổ quát
thứ nh́ luôn luôn đi theo sau, và
đào sâu thêm
đặc tánh thứ nhứt, tức là sự
vô thường (aniccam). Thật ra, cả hai nghĩa của
Khổ (Dukkha) đều do ở sự
vô thường cả. Tất cả các hiện tượng vô thường, tự
nơi bản chất của chúng, đều là
khổ (theo nghĩa thứ hai); và cũng là khổ (theo nghĩa
thứ nhứt), bởi v́ tâm đă
dại khờ ôm giữ lấy chúng. Nghĩa thứ hai của Khổ có thể
được diễn dịch như là "bất
toại nguyện, hay có sức đè nén".
Một khi đă thông hiểu
được Khổ rồi, th́
Niết bàn (Nibbàna) liền tiếp theo sau. Niết
bàn là sự tận diệt (Nirodha) hoàn toàn tận gồc rễ của
Khổ sở. Niết bàn chỉ khởi hiện sau khi Khổ
đă hoàn toàn bị xâm nhập sâu
xa. Theo sát nghĩa th́ Niết bàn là "sự thanh lương, hay là
sự mát mẽ" Nó được mô tả như
là sự chấm dứt của tham lam, sân hận và ngu si; và như là sự kết
liễu của mọi khát vọng, luyến ái, vị kỷ và vô minh. Khi các t́nh
trạng "nóng bỏng" đó lại tái
khởi nữa th́ đấy là Niết
bàn tạm thời. Niết bàn vĩnh cửu khi các t́nh trạng trên
đây chẳng thể nào khởi hiện
trở lại nữa. Sự tiến triển từ Khổ
đến Niết bàn là cứu
cánh duy nhứt của sự thực tập theo Chánh Pháp. Chẳng có ǵ khác
hơn thế mà được xem như thích
ứng hơn, cho dầu nói trong tập sách nầy, hay là ở ngoài
đời. Do đó, sự khảo sát của
chúng ta về các ch́a khoá phải nên là sự khảo sát về
điều mà
Đức Phật
đă mô tả như là
đề tài duy nhứt mà Ngài
đă giảng dạy -- Khổ và
sự tận diệt Khổ. Nỗ lực của chúng ta sẽ nhờ
đó mà
đem lại các kết quả: an hoà và
tự tại.
Chúng tôi xin cám ơn các bạn
độc giả đă lưu tâm
đến tập sách nầy. Nguyện cầu mọi
chúng sanh khám phá ra được
con đường đến với Chơn Lư Thiên Nhiên và thành tựu mỹ măn.
Tỳ kheo Santikaro
Thiền viện Suan Mokkhabalarama
Chaiya, Thái lan
Tháng Mười Một, năm 1988.
-ooOoo-
Hởi kinh Kàlàma! Xin cứu giúp chúng con!
Thông điệp Chơn
lư từ Tu viện Suan Mokkh, Tháng Năm
1988.
Bản dịch Anh văn của Dr. Supaphan Na
Bangchang và Tỳ Kheo Santikaro.
----*----
T ất cả các dân tộc trên thế giới, kể cả dân Thái,
đều ở trong cùng một t́nh
trạng giống như dân bộ lạc Kàlàma tại vùng Kesaputtanigama, xứ Ấn
độ, vào thời
Đức Phật c̣n tại thế. Làng của
họ ở vào nơi có nhiều vị đạo
sư đi ngang qua. Mỗi vị đạo sư
dạy rằng giáo lư riêng của họ là Chơn lư duy nhứt, và các vị
đạo sư khác trước họ, hay sau họ,
cũng đều sai cả. Dân chúng Kàlàma chẳng thể nào quyết
định được phải chấp nhận và
tuân theo giáo lư nào. Một hôm Đức
Phật du hành ngang qua làng họ, và dân Kàlàma liền mang vấn
đề đó thưa cùng Ngài, rằng họ
chẳng biết phải tin theo vị đạo
sư nào. Do đó, Đức Phật liền thuyết
giảng cho họ nghe bản Kinh, ngày nay
được biết đến dưới tên là Kinh Kàlàma (Kàlàma
Sutta) mà chúng ta sẽ nghiên cứu ở
đây.
Thời nay, con người thế tục có thể học tập rất nhiều ngành về
kinh tế, xă hội và kỹ thuật phát triển. Các viện
đại học giảng dạy hầu hết mọi
môn. Và về các vấn đề tâm
linh, riêng ở nước Thái nầy, cũng đă
có rất nhiều vị giảng sư, rất nhiều cách giải thích về Giáo pháp
của Đức Phật, và rất nhiều
trung tâm quán tưởng, khiến cho chẳng ai biết
được chắc lời dạy nào
đáng để thâu nhận hoặc cách
thực tập nào cần phải tuân theo. Như thế, ta có thể nói ngày nay
chúng ta đang lâm vào t́nh
trạng của dân chúng Kàlàma ngày xưa.
Đức Phật đ ă dạy họ, và cả chúng ta nữa,
đừng chấp nhận hoặc tin tưởng
bất cứ điều ǵ ngay tức khắc.
Ngài đưa ra mười điều kiện căn
bản cần quan tâm đến, hầu tránh khỏi
được t́nh trạng làm nô lệ tinh thần cho bất cứ ai, ngay cả
cho chính Đức Phật nữa. Nguyên
tắc nầy giúp ta biết được cách nào
để chọn các lời giáo huấn có
đủ khả năng
để dập tắt hẳn sự khổ sở (dukkha).
Đức Phật đă
đưa ra mười thí dụ trong Kinh Kàlàma,
như sau đây:
1. Mà anussavena: Đừng
chấp nhận và tin tưởng vào
điều ǵ chỉ v́ điều đó đă
được lưu truyền và
được nhắc lại qua nhiều năm.
Sự nhẹ dạ dễ tin đó là
đặc
điểm của hạng người thiếu trí
óc, mù mờ (...), giống như các người ở Bangkok
đă từng tin rằng những ai sanh
vào những năm "ma" sẽ
phải gánh chịu tai ương (theo niên lịch cổ truyền của Thái,
mỗi chu kỳ mười hai năm, có những năm
"ma" vào các tuổi con rắn nhỏ, con rắn lớn, con
ngựa, và con dê).
2. Mà paramparàya: Đừng
tin tưởng chỉ v́ vài tập tục đă
trở thành truyền thống. Người ta thường có khuynh hướng bắt
chước theo những ǵ kẻ khác làm và rồi truyền lại thói quen
đó, như trong câu chuyện con thỏ quá
sợ hăi v́ trái cây (...) rớt xuống. Các con thú khác trông
thấy thỏ đang bỏ chạy vùn vụt,
cũng hoảng hốt, khích động nhau lên
và cùng chạy cả theo con thỏ. Nhiều con thú vấp ngă, găy cổ, hoặc
nhào lọt xuống hố chết. Bất cứ sự thực tập Thiền Minh sát (Vipassanà)
nào, được bắt chước làm theo
kẻ khác, giản dị xem như là theo một truyền thống, rồi cũng sẽ
đưa đến các hậu quả tương tự.
3. Mà itikiràya: Đừng
chấp nhận và tin tưởng chỉ v́ các bản tường tŕnh và tin
tức đang lan rộng ra xa qua làng
ḿnh, hoăc ngay cả trên thế
giới. Chỉ có các kẻ quá ngu ngơ mới bị ảnh hưởng bởi các "tin
đồn", v́ họ chẳng chịu xử dụng
đến trí thông minh.
4. Mà pitakasampadànena:
Đừng chấp nhận và tin tưởng
chỉ v́ điều ấy được trích dẫn
trong Kinh Điển (Pitaka).
Danh từ Pitaka (= Kinh Điển)
được dùng để chỉ các kinh
tạng trong Phật giáo, ở đây có
nghĩa là những ǵ được viết ra hoặc
ghi chép trên một văn
kiện xứng đáng nào. Các giáo
lư ghi nhẩm được truyền thọ
qua cửa miệng, chẳng nên lẫn lộn với Pitaka, Kinh
điển. Pitaka, Kinh
điển, là một loại sự vật
bị điều kiện hoá (= các pháp
hữu vi) đều nằm trong tay kiểm
soát của con người. Kinh điển có thể
được tạo nên, chấn chỉnh lại và
được biến
đổi do bàn tay con người. Cho
nên, chúng ta chẳng thể tin cậy hoàn toàn vào từng chữ, từng lời,
nói trong đó. Ta cần xử dụng
sức mạnh của khả năng phân
biện nơi trí ta để xét xem áp
dụng chúng cách nào vào việc dâp tắt
được sự khổ sở. Các môn phái khác nhau trong Phật
giáo đều có riêng các quyển
giáo điều qui luật của mỗi
nhóm, với rất nhiều chỗ tương phản nhau.
5. Mà takkahetu: Đừng
tin tưởng chỉ v́ điều đó phù
hợp với Takka (cách lập luận theo khoa luận lư).
Đây chỉ giản dị là một ngành
học dùng để nghiên cứu cách
t́m ra sự thật. Takka, luận lư, mà ta thường gọi là
"logic" cũng có thể đi sai chiều,
nếu các dữ kiện hoặc các phương pháp của nó chẳng
được đúng
đắn.
6. Mà nayahetu: Đừng tin
tưởng điều ǵ chỉ v́ nó riêng
đúng với Naya (lối lư luận
diễn dịch và qui nạp). Thời nay, Naya
được gọi là "Triết học". Ở
Thái lan, danh từ Triết học được phiên
dịch là "Bát nhă"(Prajnà), mà người Ấn
độ chẳng chịu chấp nhận, bởi
v́ Naya chỉ là một quan điểm,
một lập trường thôi. Nó chẳng phải là Trí huệ cao tôt và
tuyệt đối, mà ta thường gọi là
Bát nhă, Pannà hay là Prajnà. Naya, hoặc Nyàya,
chỉ là một ngành tư tưởng đă
lư luận dựa theo căn bản các
điều phỏng
định hay giả thuyết. Nó có thể
chẳng được đứng
đắn, nếu sự lư luận hoặc sự
chọn lưạ các giả thuyết, chẳng được
thích nghi.
7. Mà àkàraparivitakkena:
Đừng tin tưởng hoặc chấp nhận
điều ǵ, chỉ v́
điều ấy ứng đúng vào lư lẽ
thông thường (common sense) của ḿnh, thực ra chỉ giản dị là một
phán đoán vội vả dựa theo các
thói quen suy nghĩ. Chúng ta thường thích dùng cách nầy quá
nhiều nên nó thành một tập quán mất rồi. Các triết gia khoác lác
rất ưa dùng cách nầy và xem nó như là khôn lanh lắm.
8. Mà ditthinijjhànakkhantiyà:
Đừng tin tưởng
điều ǵ chỉ v́
điều ấy chống lại, hay là phù
hợp, với các thành kiến hoặc lư thyết của ḿnh. Quan
điểm cá nhơn có thể sai lầm,
hoặc phương pháp thực nghiệm và kiểm tra có thể chưa
được đứng
đắn, và rồi sẽ chẳng
đưa ta đến với sự thật. Chấp
nhận những ǵ phù hợp với các lư thuyết của ḿnh có thể
được xem như một phương thức
khoa học nhưng thật ra, chẳng thể
được đúng như thế, bởi v́ các bằng chứng và các sự thực
nghiệm c̣n chưa thích nghi.
9. Mà bhabbarupatàya:
Đừng tin tưởng chỉ v́ người nói xem ra
đáng tin cậy. H́nh dạng ở
bên ngoài và kiến thức thực sự ở bên trong của một người có thể
chẳng đồng nhứt. Chúng ta
thường gặp các diễn giả bề ngoài có vẻ
đáng tin cậy mà lại nói nhiều
điều sai lầm và
điên rồ. Thời bây giờ, chúng
ta nên rất thận trọng đối với các máy
vi tính v́ các người soạn chương tŕnh hay
đưa vào, và lèo lái các dữ
kiện, để tiếp dưỡng chúng với
các tài liệu sai lầm hoặc xử dụng chúng chẳng
đứng
đắn. Đừng quá sùng mộ máy vi
tính, v́ làm như thế là đi ngược lại
với nguyên tắc của Kinh Kàlàma.
10. Mà samano no garù ti:
Đừng tin tưởng chỉ v́ vị sa
môn, hoặc pháp sư, hay diễn giả ấy là sư phụ của ḿnh. Ư
định của Đức Phật về điểm tối
quan trọng nầy là chẳng ai nên làm nô lệ tinh thần cho một ai
khác, ngay cả Đức Phật nữa. Đức Phật
nhấn mạnh lắm lần về điểm nầy, và có nhiều vị
đại
đệ tử của Ngài, như trường hợp
của Đại
đức Xá lợi phất (Sariputta),
đă tuân nhận lề lối ấy. Các vị
đó chẳng tin ngay lời nói của Đức
Phật khi vừa mới nghe xong, nhưng chỉ tín phục lời khuyến
nhũ sau khi đă cứu xét và thử
nghiệm qua sự thực hành một cách thích nghi. Các bạn hăy tự ḿnh
t́m xem coi có vị đạo sư nào
của các tôn giáo khác trên hoàn cầu đă
dành một sự tự do hết sức rộng răi như thế cho các
đệ tử và thính chúng của ḿnh
hay không! Như thế trong Phật giáo chẳng hề có một hệ thống tín
điều độc
đoán, chẳng hề có áp lực nào
buộc phải tin theo mà chẳng được
quyền xét lại và tự ḿnh quyết
định lấy. Đây chính là một đức
tánh vĩ đại của Phật giáo
đă giữ ǵn cho các tín
đồ khỏi phải trở thành nô lệ
tinh thần của bất cứ ai, như đă
được giải thích ở trên. Người
Thái chúng ta chẳng nên nhắm mắt tin theo Tây phương một cách quá
lệ thuộc như hiện nay. Sự tự do trí thức và tâm linh là
điều tốt
đẹp nhứt.
Mười thí dụ trong Kinh Kàlàma là một công sự pḥng vệ kiên cố
chống lại sự lệ thuộc tinh thần và sự
đánh mất nhân bản của chính ḿnh, tức là, chống lại sự hờ
hững lảng quên mất sự thông minh và trí huệ của chính ḿnh, khi
phải ứng phó với những ǵ đang được
nghe đến, hay được khuyến dạy, các
điều mà trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp gọi là paratoghosa (= âm thanh của kẻ khác). Khi
lắng nghe điều ǵ, ta nên
để hết vào
đó sự chú tâm cẩn thận và sự
thẩm sát đầy
đủ. Nếu có lư do
để tin tưởng vào những ǵ
đă nghe
được và việc
đó đưa đến thành quả là sự dập
tắt hết các khổ sở, th́ bấy giờ ta mới có thể tín phục nó trăm
phần trăm.
Nguyên tắc của Kinh Kàlàma thích hợp với mọi người, mọi nơi,
mọi thời đại, và mọi cảnh giới
-- ngay cả trên cơi Trời (Deva). Thời buổi nầy, thế giới
được thâu hẹp nhỏ lại bởi lối truyền
thông tuyệt mỹ. Tin tức được trao đổi
dễ dàng và nhanh chóng. Dân chúng có thể nhận
được các kiến thức từ mọi
phương hướng, mọi góc xó nào trên thế giới. Trong diễn tŕnh
đó, họ chẳng biết được phải tin những
ǵ và v́ thế, họ đang ở vào
t́nh trạng của những người Kàlàma ngày xưa. Thật vậy, Kinh Kàlàma
sẽ là nơi nương tựa cho họ. Xin bạn hăy
đặt hết sự quan tâm và nghiên
cứu nó thật cẩn thận, cho xứng đáng
với giá trị của nó. Hăy cứu xét
đến cơ may to lớn mà
Đức Phật đă giảng Kinh Kàlàma.
Đó là một tặng phẩm, một pháp
thí, cho mọi người trên thế giới. Chỉ có những kẻ quá ngu khờ mới
chẳng t́m thấy ra nổi các lợi lạc trong lời dạy của
Đức Phật.
Kinh Kàlàma có thể được dân chúng
ở mọi lứa tuổi dùng đến. Ngay cả trẻ
con cũng có thể ứng dụng để
trở thành các thiếu nhi giác ngộ (Bhodi, Bồ
đề, giác ngộ), chớ chẳng
c̣n là những thiếu nhi vô minh (Avijjà, vô ḿnh, si mê).
Bực làm cha mẹ phải dạy dỗ và luyện tập con cái thông hiểu
được các lời khuyến nhũ của
ḿnh, thấy cho rơ các lời ấy hữu lư như thế nào và sẽ
đưa đến các thành quả ra sao.
Khi được mẹ cha chỉ dạy
điều ǵ, các thiếu nhi phải
hiểu rơ và thấy được lợi ích
của việc thực hành theo lời dạy.
Thí dụ như, khi nghe bảo chớ nên dùng ma túy, th́ các thiếu
niên tin nghe theo, chẳng phải v́ quá sợ hăi mà tin; mà trái lại,
v́ thấy rơ hậu quả của việc dùng ma tuư mà sợ nên mới, tự ḿnh,
quyết tâm từ khước chất ma túy.
Chẳng có bất cứ điều nào
trong Kinh Kàlàma lại bảo rằng, trẻ con
đừng nên tin vào bất cứ ai cả,
cũng chẳng có lời khuyên nào nói rằng,
đừng nên nghe theo người nào
cả. Các lời khuyên trong Kinh tuyên bố, trẻ con và bất cứ ai khác
nữa, chỉ nên nghe theo, và tin tưởng vào
điều ǵ, sau khi thấy rơ ư
nghĩa chơn thật của điều ấy và
các lợi lạc sẽ thâu lượm được nhờ tin
tưởng và thực hành theo. Khi một giáo chức dạy một
điều ǵ, nếu
đă chỉ rơ lư do
đằng sau điều dạy đó, th́ sẽ
chẳng làm cho các học sinh trở nên ngoan cố. (...), và khiến chúng
sẽ nghĩ lại thêm về điều đó. Trẻ con
sẽ hiểu rơ nguyên tắc của Kinh Kàlàmà hơn, khi chúng lớn
khôn lên. Chúng sẽ tự ḿnh hoàn tất hết cả mười lời khuyên, khi
trở nên người trưởng thành chín chắn, nếu chúng hiện
được huấn luyện theo
đúng tiêu chuẩn
đó.
Khoa học giới trên hoàn cầu ngày nay sẽ vui ḷng mà chấp nhận
cả mười điều khoản trong Kinh
Kàlàma, v́ chúng đều phù hợp
với phương pháp và đường lối
nghiên cứu khoa học. Chẳng có một chút nào nghịch chống nhau, giữa
các nguyên tắc của khoa học và của Kinh Kàlàma cả. Ngay cả
đề mục thứ tám, ghi rằng ta
chẳng nên chấp nhận điều nào
chỉ v́ nó phù hợp với các lư thuyết đă
được quan niệm từ trước, cũng
chẳng tương khắc chi với các nguyên lư khoa học. Các nhà khoa học
chơn chánh đều nhấn mạnh đến sự kiểm
điểm lại bằng thực nghiệm, chớ
chẳng phải theo ư kiến hay lập luận riêng của họ, bởi v́
đó là tiêu chuẩn chánh của họ
để chấp nhận như thật một
điều nào. Nhờ các tiêu chuẩn
đó trong Kinh Kàlàma mà Phật
giáo đă thoả măn
được các đ̣i hỏi và kỳ vọng
của các nhà khoa học chơn chánh.
Nếu tuân theo nguyên tắc của Kinh Kàlàma, ta sẽ có
đủ được kiến thức (...)và lư
trí để thông hiểu về nghĩa lư
và sự thật của các ư kiến và các mệnh
đề được nghe lần đầu. Thí dụ như, khi ta nghe nói rằng, tham, sân
và si rất là nguy hiểm và xấu ác, ta liền hiểu ngay lập tức
và cặn kẽ, bởi v́ ta đă biết
rơ các điều ấy là như thế nào,
qua kinh nghiệm bổn thân của ta. Ta tin, căn
cứ vào nơi ta, chớ chẳng phải tin theo diễn giả.
Đường lối thực hành
đối với các trường hợp khác
lại cũng như thế. Nếu có lời tuyên ngôn nào về một
điều ǵ ta chưa hề thấy hay
biết rơ từ trước, ta nên t́m hiểu về
điều ấy, hoặc trước nhứt, t́m cách biết
được điều ấy; rồi sẽ cứu xét
xem có nên chấp nhận lời khuyên mới vừa
được chỉ dạy. Ta chẳng nên
chấp nhận điều ǵ, chỉ vỉ tin
theo lời người nói.Ta phải chịu để
mất nhiều thời giờ, t́m ra sự thật, dầu có phải chết mất
trước khi t́m ra. Kinh Kàlàma có thể bảo vệ mọi người tránh
được sự trở thành nô lệ tinh
thần cho kẻ khác, dầu kẻ ấy thuộc vào hàng cao cấp nhứt.
Thường có vấn đề mỗi khi một loại
thuốc men mới ra đời và
được quảng cáo rầm rộ khắp
nơi. Ta có nên tự hiến ḿnh làm con "chuột tàu" cho người ta thí
nghiệm chăng, khi quá tin vào
các lời quảng cáo? Hoặc là ta nên chờ lúc nào có
đủ lư do
để dùng thử lần
đầu chút ít, để xem coi nó thực
sự có hiệu quả tốt không, trước khi hoàn toàn
đặt tín nhiệm vào nó? Ta
đáp ứng lại các lời tuyên ngôn
mới và các lời chỉ dạy, cũng giống như ta
đă
đáp ứng lại sự quảng cáo các
loại thuốc men mới, bằng cách dựa theo nguyên tắc trong Kinh
Kàlàma, được xem như là một
nơi nương tựa thực sự của ḿnh.
Kinh Kàlàma đ̣i hỏi chúng
ta phải đủ trí huệ sáng suốt
trước khi đặt niềm tin vào
đâu. Nếu ai muốn có niềm tin đi
trước, th́ nên phải là niềm tin bắt
đầu bằng sự sáng suốt của trí
huệ, chớ chẳng phải niềm tin đă
xuất phát từ sự vô minh. Đối với Bát
Chánh Đạo, nguyên tắc cũng vẫn
lànhư thế: lấy Chánh tri kiến làm
điểm khởi hành, rồi để cho
niềm tin nẩy nở ra từ sự sáng suốt của Chánh tri kiến.
Đó là
đường lối tiến hành an toàn
nhứt. Ta chẳng bao giờ nên mù quáng tin ngay lập tức vào một
điều ǵ, và cũng chẳng nên
để ḿnh bị bắt buộc phải tin
v́ sợ hăi, hoặc v́ hối lộ, hay v́ những việc tương tợ khác.
Thế giới ngày nay bị tràn ngập bởi sức mạnh của việc quảng cáo
khiến cho dân chúng trở thành nô lệ của nó. Nó có thể làm cho
người ta móc bóp ngay ra mua những vật mà họ chẳng cần
ăn, chẳng cần có, và chẳng cần
xử dụng đến. Thật là chuyện
thường t́nh nếu ta cần phải tuyệt đối
cống hiến nguyên tắc trong Kinh Kàlàma cho các bạn
đồng
đội của ta trong thời
đại nầy. Sự tuyên truyền c̣n
hại hơn là sự quảng cáo thông thường, hay là
điều mà tiếng Pali gọi là
paratoghosa (= âm thanh của kẻ khác). Ngay cả với sự quảng cáo
thường, ta cũng nên dựa theo nguyên tắc trong Kinh Kàlàma, huống
hồ là đối với sự tuyên truyền
tràn đầy những sự lưà phỉnh ẩn
ư. Vậy th́, ta có thể nói Kinh Kàlàma có thể giúp ích cho việc
giải quyết các vấn đề kinh tế.
Tôi thỉnh cầu tất cả các bạn, hăy cứu xét, thẩm sát, và trắc
nghiệm xem coi ở đâu có được một sự
tự do về tinh thần rộng lớn hơn sự tự do nói trong Kinh
Kàlàma. Nếu có ai bảo rằng Phật giáo là một tôn giáo của tự do,
th́ c̣n có lư lẽ nào để tranh
căi hay chống đối với lời tuyên
ngôn đó chăng? Cái thế giới
đang bị tự do nhiễm
độc nầy, có thực sự biết
đến, hay thọ hưởng
được sự tự do phù hợp với
nguyên tắc của Kinh Kàlàma không? Có phải sự khiếm khuyết về tự do
đó, do sự vô minh mù quáng và
sự lănh đạm
đối với Kinh Kàlàma,
đă gây ra chăng?
Vài người c̣n đ̣i bảo rằng
Kinh đó dạy ta đừng tin, hay đừng
nghe theo bất cứ ǵ. Hơn nữa, vài người
đă thực sự nói rằng,
Đức Phật thuyết giảng Kinh
Kàlàma nầy chỉ để cho dân chúng Kàlàma
vào thời ấy mà thôi. Tại sao ta chẳng chịu mở mắt ra nh́n và lưu
tâm đến việc dân chúng ngày
nay đă trở thành nô lệ tinh
thần, họ mất tự do c̣n nhiều hơn dân Kàlàma vào thời
Đức Phật? Nầy các thân hữu,
nầy các người tôn thờ tự do, tôi thỉnh cầu các bạn hăy cứu xét cẩn
thận cốt tủy và mục tiêu của Kinh Kàlàma cùng ư
định của Đức Phật khi Ngài
giảng dạy Kinh ấy. Rồi th́, Phật tánh giác ngộ nơi các bạn sẽ phát
triển sởn sơ và hùng mạnh, hơn là c̣n ốm o và ươn yếu. Xin
đừng điên rồ
đi hiềm ghét và sợ hăi Kinh
Kàlàma. (...)
Giờ đây, xin hăy nh́n xa
hơn nữa để thấy được các lợi
điểm nằm tiềm ẩn trong Kinh
Kàlàma. Kinh Kàlàma c̣n giúp chúng ta tránh
được các cuộc tranh luận thiển
cận và thiếu khéo léo thường dẫn đến
những trận gây gổ, ấu đả dữ
dội. Thí dụ như ấn định một đạo
luật chẳng thể sửa đổi được, chung
cho tất cả mọi gia đ́nh,
về vai tṛ của người chồng hay của người vợ, (...) là một việc làm
điên rồ. Tất cả
đều tùy thuộc vào
điều kiện và trường hợp của
mỗi gia đ́nh riêng biệt. Căn
cứ theo nguyên tắc trong Kinh Kàlàma và trong qui luật duyên sanh
( idappaccayatà), chúng ta chỉ có thể nói
đến nhiệm vụ nào thích hợp với
người chồng hoặc với người vợ, tùy theo các trường hợp riêng của
mỗi gia đ́nh cá biệt. Xin
đừng phát biểu các ư kiến
thiên vị về một phiá và đi trái
ngược với nguyên tắc thiên nhiên.
Liên quan đến sự phá thai, dân
chúng thường tranh luận đến đỏ
cả mặt về việc nên hay không nên cho phép; mà chẳng chịu
đi nghiên cứu
để t́m xem trong trường hợp
nào đáng chấp thuận, trong
trường hợp nào không. Một khi chúng ta tuân theo các nguyên tắc lư
luận của Phật học, mỗi hoàn cảnh, tự nó, sẽ nói lên cho ta biết
những ǵ thích hợp và những ǵ không. Xin
đừng bám măi vào lập trường
thiên vị về một phiá.
Trong trường hợp ăn thịt hoặc ăn
rau, dân chúng thường mù quáng tranh luận nhau từ cực
đoan nầy đến cực
đoan kia. Vấn
đề là người ta hay bám níu vào
việc xem thực phẩm như, hoặc là thịt, hoặc là rau.
Đối với người Phật tử, chẳng
có thịt mà cũng chẳng có rau, chỉ có các nguyên tố trong thiên
nhiên. Trong t́nh trạng nào mà ta nên
ăn thịt, và trong trường hợp nào mà ta chẳng nên
ăn như thế, có thể được phân
biện rơ ra bằng cách áp dụng nguyên tắc trong Kinh Kàlàma. Chỉ v́
mỗi một lư do đó, mà
Đức Phật đă chẳng hề nói một
cách quyết định rằng chỉ nên
ăn thịt thôi hoặc chỉ nên
ăn rau thôi, hoặc chẳng được ăn thịt
hay chẳng nên ăn rau. Phát
ngôn thiếu thận trọng chẳng phải là
đường lối của người Phật tử.
Bảo rằng dân chủ luôn luôn và tuyệt
đối là
điều tốt
đẹp, đó là phát ngôn với cái
đầu trốn chui vào cát (như con
đà
điểu). Những ai cố binh vực
dân chủ, đă chẳng cứu xét rằng
một nền dân chủ của những người ích kỷ c̣n tệ hại hơn một thể chế
độc tài dưới quyền lănh
đạo của một người vị tha thống
trị nhơn danh Chánh Pháp (Dhamma) và công lư. Một nền dân
chủ của những người ích kỷ có nghĩa là
được tự do xử dụng ḷng ích lỷ
của họ theo một cung cách hết sức kinh khủng và hăi hùng. Cho nên,
vấn đề cứ kéo dài măi giữa
những người theo dân chủ vị kỷ. Xin hăy ngưng việc tuyên bố rằng
dân chủ là tuyệt đối tốt
đẹp và
độc tài là tuyệt
đối xấu xa. Thay v́ thế, xin
hăy đeo giữ theo nguyên tắc là
cả hai đều tốt
đẹp nếu chúng căn cứ trên
Chánh pháp. Mỗi dân tộc nên chọn một thể chế nào thích hợp nhứt
với các t́nh trạng mà dân tộc đang
phải đương đầu.
Bảo rằng vị Thủ tướng phải chỉ là một người
được bầu vào Quốc hội, và
chẳng thể bao giờ là người chưa được
dân chúng tự do chọn lựa một cách trực tiếp,
đó chỉ là lời nói bập bẹ ấp
úng với những kẻ điếc lác và
mù loà. Thật ra, chúng ta cần t́m xem cho rơ t́nh thế như thế nào
và các nguyên nhân cùng điều
kiện ra sao, rồi mới hành động đúng
đắn chiếu theo định luật duyên
sanh. Đó mới thật là
đường lối chơn chánh của Phật
đạo, xứng hợp với sự kiện Phật
giáo là hiện thân của nền dân chủ dưới h́nh thức một chủ nghĩa xă
hội đạo pháp (dhammic
socialism). Bởi thế cho nên, sự bầu cử các nhân viên của Quốc
hội, sự thiết lập một Chánh phủ, cơ cấu của thể chế chánh trị, và
ngay cả sự phát triển về xă hội và kinh tế, cũng nên
được thi hành theo
đúng nguyên tắc trong Kinh
Kàlàma. Xin hăy cứu xét từng thí dụ một và các bạn sẽ khám phá ra
sự kiện là chúng ta cần phải luôn luôn nương tựa vào nguyên tắc
của Kinh Kàlàma.
Hơn bao giờ hết, thế giới hiện đại
cần đến Kinh Kàlàma làm nguyên tắc căn
bản về điều hành. Thế giới
đang quay cuồng với các lậu
hoặc của nhơn loại. Thế giới ấy thu nhỏ lại nhờ ở sự vận tải và
truyền thông được cải tiến rất
tân kỳ. Và nó cũng đang gần kề với sự
tự hủy diệt, bởi v́ khiếm khuyết sự tỉnh thức thích
đáng, sự thông minh và trí
huệ. Dưới mănh lực của các lậu hoặc ô nhiễm, thế giới
đang sùng mộ chủ nghĩa vật
chất, t́nh dục và xa hoa, bởi v́ nó thiếu hẳn các tiêu chuẩn như
đă ghi trong Kinh Kàlàma.
Chẳng ai biết đến việc phải chọn lựa
cho phù hợp với nguyên tắc Kinh ấy. Hậu quả là thế giới
hoàn toàn chẳng thích hợp với hoà b́nh, cứ măi gia tăng
từ giờ từng phút các tôi phạm và những
điều bất thiện ác hại khác. Ta
hăy tận diệt hết tất cả các vấn đề
khó khăn đó và các
điều bất thiện xấu ác, bằng
cách nương tựa vào Kinh Kàlàma, giữ lấy
đó mà làm các tiêu chuẩn của
chúng ta. Vậy chúng ta hăy hô thật to, vang lên khỏi lồng ngực lời
kêu gọi:
"Hởi Kinh Kàlàma, xin hăy cứu giúp chúng con!"
Đ ể kết luận, Kinh Kàlàma (Kàlàma Sutta)
chẳng hề bao giờ cấm chúng ta tin tưởng vào bất cứ
điều ǵ; Kinh ấy chỉ khuyến
thỉnh chúng ta nên tin tưởng với một sự thông minh
độc lập và trí huệ. Kinh
đó chẳng hề cấm
đoán chúng ta nghe theo điều ǵ.
Kinh ấy chỉ giản dị thỉnh cầu chúng ta
đừng để sự thông minh và trí
huệ của chúng ta trở thành nô lệ. Hơn nữa, Kinh ấy giúp chúng ta
có đủ khả năng
để suy tư, cứu xét, thẩm sát và quyết
định với sự tế nhị tối
đa và chính xác,
để cho chúng ta có thể t́m
thấy ra được các cây kim vàng
lẫn lộn trong các đống rơm cao nghều
nghệu như đỉnh núi.
Hởi Kinh Kàlàma, xin hăy đến với
chúng con! Hởi Kinh Kàlàma, xin hăy
đến tự ḿnh
đầu tư trọn vẹn vào trong tâm,
trong trí của tất cả mọi Phật tử, tất cả mọi chúng sanh, trên cơi
thế gian nầy!
Kinh Kàlàma hởi! Xin cứu giúp chúng con!
-ooOoo-
Hai thứ ngôn ngữ: nói thường và nói pháp
Bài giảng pháp tại Suan Mokkh, 08-10-1966, của
Pháp sư Phật Lệ (Buddhadàsa)
Bản dịch Anh ngữ của Roderick Bucknell.
-ooOoo-
B ài giảng pháp hôm nay hơi
đặc biệt. Ngày qua ngày, tôi
nhận thấy rằng, mặc dầu đề mục
thuyết giảng đă
được giải thích như thế nào
đi nữa, phần đông dân chúng c̣n
chưa hiểu rơ chút nào cả. Người ta
được nghe giảng qua đă lắm lần rồi, nhưng vẫn c̣n chưa hiểu
thấu được. Tại sao lại như vậy?
Nếu ta nh́n sâu vào vấn đề, ta sẽ
khám phá ra lư do. Phần đông
chúng ta chỉ quen thuộc với lời nói thông thường hằng ngày,
cái ngôn ngữ được người thường dùng
đến, tức là ngôn ngữ b́nh dân
thế tục. Ta c̣n chưa nhận thức ra
được, có một loại ngôn ngữ rất
đặc biệt, hoàn toàn khác hẳn: ngôn ngữ của tôn giáo, ngôn
ngữ của Chánh Pháp (Dhamma).
Ngôn ngữ của Chánh Pháp là
điều khác hẳn với lời nói thông
thường hằng ngày. Cần nên ghi nhớ rơ
điều nầy vào tâm. Lời nói thường và lời nói của Chánh Pháp
là hai điều dị biệt nhau và
cách nói năng cũng khác nhau. Lời nói
hằng ngày là ngôn ngữ thế tục, tiếng nói của hạng b́nh dân
c̣n chưa thông hiểu Chánh Pháp. Ngôn ngữ của Chánh Pháp là lời nói
của những vị đă
đạt được sự minh triết thâm
viễn về Chơn Lư, về Chánh Pháp. Đă
thâm nhập vào Chánh Pháp, các vị ấy diễn tả bằng những ngôn từ
thích hợp với các kinh nghiệm của các vị ấy, và do
đó mà ngôn ngữ Chánh Pháp
đă ra
đời. Cung cách
đặc biệt trong lời nói,
đó là
điều mà ta gọi là ngôn ngữ của
Chánh Pháp. Đó là một thứ ngôn
ngữ khác hẳn với lời nói thường ngày.
Vậy, có hai thứ ngôn ngữ: lời nói của Chánh
Pháp và lời nói thường ngày. Lời nói thường ngày
được căn cứ trên các sự vật
vật chất và các kinh nghiệm mà người thường
đă trải qua. V́ căn
cứ trên điạ hạt vật chất hơn
là tâm linh, ngôn ngữ thường ngày chỉ
để dùng vào việc bàn luận về các vấn
đề và các t́nh trạng trong thế
gian. Nó chỉ để dùng cho những
sự vật có thể sờ mó đến, được cảm
nhận trong những t́nh trạng thường ngày. Trái lại, ngôn ngữ của
Chánh Pháp phải giao tiếp với cảnh giới tâm linh, với những ǵ
chẳng thể sờ mó đến được, với thế
giới phi vật chất. Để có thể thông
hiểu và xử dụng được ngôn ngữ
nầy của Chánh Pháp, ta cần phải đạt
tới sự minh triết về thế giới tâm linh. Bởi thế cho nên,
chỉ có người nào đă hiểu rơ
Chánh Pháp, Chơn Lư, th́ mới nói được
bằng ngôn ngữ của Chánh Pháp, một thứ ngôn ngữ của cảnh
giới tâm linh, của cơi phi vật chất vượt lên trên
địa hạt vật lư.
Xin được nói lại,
theo một cách khác. Chúng ta phân biệt lời nói thông thường
với ngôn ngữ siêu h́nh. Lănh vực của siêu h́nh rất ư là khác biệt
với lănh vực vật lư và do đó, phải có
một ngôn ngữ đặc biệt
về siêu h́nh. Vậy, ngoài ngôn ngữ thông thường hằng ngày ra, ta
c̣n có một thứ ngôn ngữ vượt khỏi lên trên thế giới vật chất. Ngôn
ngữ vật lư là thứ ngôn ngữ của thế tục, theo qui ước, và dựa theo
t́nh trạng thông thường của các sự vật vật chất. Ngôn ngữ siêu
h́nh được căn cứ trên các sự
việc tâm linh. Ngôn ngữ nầy cần phải
được học tập, nghiên cứu và thông hiểu
đến. Nó chẳng căn cứ trên thế
giới vật lư, mà trái lại, thuộc về
địa hạt tâm linh. Tôi hy vọng, giờ
đây, các bạn thấy rơ
được sự phân biệt giữa lời nói
hằng ngày và ngôn ngữ trong Chánh Pháp.
Điểm quan trọng giờ
đây là nếu ta chỉ biết có lời
nói thường ngày, th́ ta c̣n chưa thông hiểu nổi Chánh Pháp chơn
thật khi được nghe nói đến. Nếu ta
chưa biết được ngôn ngữ Chánh Pháp, th́ ta chẳng thể nào
thông hiểu được Chánh Pháp,
cái Chơn Lư siêu thế có khả năng thực
sự giải thoát ta ra khỏi sự bất toại nguyện và khổ sở (Dukkha).
Lư do tại sao ta chẳng hiểu được ngôn
ngữ của Chánh pháp chính là v́ ta chỉ quen thuộc với ngôn ngữ hằng
ngày và chưa rành rẽ với ngôn ngữ trong Chánh Pháp.
Thật là hết sức cần thiết phải giải thích các
lời dạy của Đức Phật bằng ngôn
từ của Chánh Pháp và luôn cả bằng tiếng nói của ngôn ngữ thường
nhựt. Cả hai ư nghĩa đó phải được cứu
xét kỹ đến. Xin các bạn hăy
ghi nhận kỹ đoạn Kinh trích
dẫn sau đây ở trong Tương Ưng
Bộ Kinh, I, 87 (Samyutta Nikaya, I, 87):
Appamatto ubho atthe adhiganhàti pandito,
Ditthe dhamma ca yo attho, yo càttho samparàyiko.
Atthàbhisamayàdh́ro pandito ti pavuccati.
Người hiền trí và tỉnh giác quen thuộc với cả
hai cách nói năng:
theo ư nghĩa mà các người thông thường hiểu
được và ư nghĩa mà họ chưa
hiểu nổi.
Kẻ nào lưu loát trong mọi cách nói năng
mới thật là người hiền trí.
Đây l à một nguyên tắc tồng quát
để áp dụng khi học hỏi về
Chánh Pháp, ở mức thường hay ở bực cao cấp.
Đoạn Kinh trích dẫn cũng nên
được ứng dụng vào các ngôn ngữ
thông thường khác. Đoạn Kinh ấy có vài
thành ngữ làm ta dễ lẫn lộn, như "ubha atthe" có nghĩa là "cả
hai ư nghĩa" hoặc "cả hai cách nói năng".
Một người phân biện tinh tế cần phải nên cứu xét
đến cả hai ư nghĩa hoặc cả hai
cách diễn tả bằng lời nói, chớ chẳng phải chỉ riêng có một nghĩa
hay một cách mà thôi. Thí dụ như kẻ nào chỉ xét
đến ư nghĩa theo lời nói thông
thường và bỏ qua ư nghĩa kia, tức là ư nghĩa theo ngôn từ của ngôn
ngữ Chánh Pháp, th́ chẳng đáng được
gọi là người hiền trí hoặc là người biết phân biện tinh tế.
Như Đức Phật có nói, một người phân
biện tinh tế là người có đủ khả
năng để cứu xét cả hai lối nói.
Nghĩa vụ của ta là phải cứu xét kỹ cả hai lối giải thích có thể có,
một lối theo lời nói thường ngày và một lối theo ngôn từ của ngôn
ngữ Chánh Pháp.
Sau đây là
vài thí dụ về điều mà tôi vừa
muốn nhấn mạnh đến. Mỗi danh
từ sau đây sẽ được giải thích,
căn cứ trên ư nghĩa của cả hai
lối nói: nói thường và nói theo Chánh Pháp. Việc nầy sẽ giúp các
bạn thông hiểu được rơ ràng cả
hai cách diễn tả tư tưởng.
Đ ức Phật (Buddha)
Thí dụ thứ nhứt là chữ
Đức Phật. Như bạn đă biết, chữ
Đức Phật trong ngôn ngữ
hằng ngày chỉ về Bực Đại giác
có trong lịch sử, Đức Phật Cù
đàm (Gotama Buddha).
Danh từ đó trỏ rơ vào một con
người thể chất bằng xương thịt, được
sanh ra ở Ấn độ hơn hai ngàn
năm nay, chết đi và
được hoả táng.
Đấy là ư nghĩa của danh từ
Đức Phật, trong ngôn
ngữ thường ngày.
Tuy nhiên, xét theo ngôn từ của ngôn ngữ trong
Chánh Pháp, th́ danh từ Đức Phật
lại trỏ vào Chơn Lư mà Đức
Phật lịch sử đă nhận
thức được và
đem ra giảng dạy, tức là chính
cái Chánh Pháp (Dhamma) đó.
Đức Phật bảo:
"Kẻ nào thấy Chánh Pháp (Dhamma)
là thấy được Như Lai (Tathàgata).
Kẻ nào thấy được Như Lai là
thấy được Chánh Pháp.
Kẻ nào nắm lấy áo của Như Lai mà chưa thấy
được Chánh Pháp, th́ chẳng thể
được xem như đă thấy Như Lai."
Giờ đây, Chánh
Pháp là điều ǵ chẳng thể sờ
mó đến được. Nó chẳng phải là
vật thể, và chắc cũng chẳng bao giờ là thịt và xương. Tuy vậy,
Đức Phật lại bảo nó lại là cái
ǵ giống với Bực Đại giác. "Kẻ
nào thấy Chánh Pháp là thấy được Như
Lai." Bất cứ ai chẳng thấy được Chánh
Pháp th́ chẳng thể nào gọi đó là
người đă thấy Bực
Đại giác. Vậy th́, trong ngôn
ngữ của Chánh Pháp, Đức Phật
là một với Chơn Lư và giống nhau với Chơn Lư, cái Chơn Lư mà y
cứ theo đó Ngài mới trở thành
Đức Phật; và những ai
đă thấy ra
được Chơn Lư, th́ mới có thể
nói đó là những kẻ
đă nh́n thấy
Đức Phật chơn thật. Chỉ thấy
thân tướng thể chất của Ngài thôi th́
đâu thể nào bảo đó là
thấy được Đức Phật chi cả và
cũng chẳng mang lại lợi lạc thât sự nào.
Vào thời Đức Phật
c̣n sanh tiền, phần đông dân
chúng chẳng có nhiều thiện cảm
đối với Ngài. Vài người c̣n hỗn hào với Ngài, và ngay cả
làm tổn thương đến thân thể
nữa. Họ chẳng hiểu Ngài, bởi v́ những ǵ họ thấy chỉ là tấm thân
thể chất, cái vỏ bên ngoài, Đức Phật
của ngôn ngữ thông thường hằng ngày.
Đức Phật chơn thật,
Đức Phật của ngôn ngữ Chánh
Pháp, là Chơn Lư ở trong tâm Ngài, mà khi biết
đến được, Ngài mới trở thành
"Đức Phật". Khi Ngài
nói rằng: "Kẻ nào thấy được Chơn
Lư tức là kẻ đó thấy Ta. Ai thấy Ta là
thấy Chơn Lư", đó là Ngài
đang dùng ngôn ngữ của Chánh
Pháp mà nói với chúng ta.
Lại nữa, Đức Phật
bảo: "Chánh Pháp và Giới Luật (Vinaya) mà Ta tuyên
cáo và chứng minh, sẽ là Thầy của các ông, sau khi Ta qua
đời." Như thế,
Đức Phật chơn thật chẳng hề
qua đời, chẳng hề chấm dứt hiện
hữu. Chấm dứt sự hiện hữu, chỉ là tấm thân thể chất, cái vỏ bên
ngoài. C̣n bực Thầy thực sự, tức là Chánh Pháp & Giới Luật
(Dhamma Vinaya) vẫn c̣n với chúng ta.
Đó là ư nghĩa của danh từ
Đức Phật trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp. Đức Phật
trong ngôn ngữ thông thường hằng ngày là con người thể chất;
c̣n Đức Phật trong ngôn
ngữ của Chánh Pháp chính là Chánh Pháp, cái Chánh Pháp
đă khiến Ngài thành
Đức Phật.
Chánh Pháp (Dhamma).
Danh từ thứ nh́ cần cứu xét
đến là Chánh Pháp (Pali:
Dhamma, Phạn: Dharma). Tại cấp bực nhi
đồng (thấp nhứt) của ngôn ngữ
thông thường hằng ngày, chữ đó được
hiểu như là các quyển sách đă
ghi chép các Kinh điển, được sắp
xếp trên kệ sách. Hoặc nó có thể được
hiểu như là lời nói được dùng
để giải thích rộng răi về lời
Giáo huấn của Đức Phật. Đấy là
ư nghĩa của danh từ Chánh Pháp trong ngôn ngữ hằng ngày,
ngôn ngữ của những kẻ c̣n mê mờ, chưa thấy
được Chánh Pháp chơn thật.
Theo nghĩa của ngôn ngữ trong Chánh Pháp, chữ
Chánh Pháp chính là một với Bực
Đại Giác , và giống với Bực
Đại giác. "Kẻ nào thấy Chánh
Pháp, kẻ ấy thấy được Như Lai
(Tathàgata). Đây chính là
Chánh Pháp chơn thật. Theo nghĩa ngữ nguyên trong tiếng Pali, chữ
Chánh pháp được dùng
để chỉ đến tất cả những ǵ
phức tạp có dính dấp với việc tạo thành
điều mà ta gọi là Thiên Nhiên.
V́ chẳng có đủ thời giờ
để bàn luận trong chi tiết,
tôi chỉ xin nêu ra các điểm
chánh yếu. Danh từ Pháp (dhamma) bao gồm các nghĩa
sau đây:
1. Chính Thiên Nhiên;
2. Qui luật của Thiên Nhiên;
3. Nhiệm vụ của mọi chúng sanh là phải hành
động dựa đúng theo các qui
luật Tự nhiên
4. Các lợi lạc đạt được từ các hành
động phù hợp theo Qui luật của
Thiên Nhiên.
Đó l à cả một giai tầng rộng răi gồm các
ư nghĩa mà chữ Pháp bao trùm. Nó chẳng chỉ nói
đến riêng về các sách vở, các
thủ bản lá bối, hoặc các lời nói của diễn giả. Chữ Pháp
dùng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp trỏ vào các sự việc phi vật
chất. Chánh Pháp bao hàm tất cả, nghĩa nó thật sâu xa; trùm chứa
hết muôn sự vật; ư nghĩa của nó trong vài trường hợp th́ khó hiểu,
mà tại vài nơi cũng chẳng quá gay go
để nhận thức ra được.
Tăng già
(Sangha).
Giờ đây, ta xét
đến chữ Tăng già. Trong ngôn ngữ hằng ngày, chữ Tăng
già chỉ đến cộng
đồng các vị tu sĩ mặc áo cà sa
màu vàng và đi từ chỗ nầy đến chỗ kia
để khất thực. Đó là chữ
Tăng già trong ngôn ngữ
hằng ngày, ngôn ngữ của những người vẫn c̣n chưa giác ngộ
được Chơn Lư. Trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp, chữ Tăng
già cũng chỉ vào Chơn Lư nữa, tức là chính Chánh Pháp. Danh từ
ấy trỏ vào các đức tánh cao
cả, thuộc vào bất cứ loại nào và ở bất cứ mức
độ nào, trong tâm tư của vị tu
sĩ, con người đầy
đủ giới
đức. Trong các đức tánh cao
qúi, có các đức tánh
đủ làm cho một người trở nên
tu sĩ. Tổng số các đức tánh
cao qúi hiện đang có trong tâm một tu
sĩ chính là điều được gọi là
Tăng già.
Tăng già
trong ngôn ngữ thường nhựt là một cộng
đồng các tu sĩ. Tăng
già trong ngôn ngữ của Chánh Pháp là những
đức tánh cao qúi ngự trị trong
tâm các vị tu sĩ. Tăng già,
theo nghĩa chính danh, chỉ vào bốn cấp bực chứng
đắc: (1) Dự lưu (Sotàpanna,
Tu đà huờn) ; (2) Nhứt Lai
(Sakadàgàmi. Tư đà hàm);
(3) Bất Lai (Anàgàmi, A na hàm), và (4) A la hán (Arahant,
bực đă hoàn toàn giải
thoát khỏi các lậu hoặc tinh thần). Các danh từ
đó cũng trỏ vào các
đức tánh về tâm linh, chớ
chẳng phải thuộc về thể chất, bởi v́ thân tướng của các vị chẳng
có chút ǵ khác với h́nh dạng của bất cứ một ai.
Điểm mà các vị ấy khác biệt
với mọi người chính là các đức tánh
tâm linh, đă khiến cho
các vị chứng đắc được các quả
vị Tu đà huờn, Tư
đà hàm, A na hàm hoặc A la
hán. Đó là ư nghĩa mà danh từ
Tăng già cần
được hiểu theo ngôn ngữ trong
Chánh Pháp.
Tôn giáo
Giờ đây ta đến với
danh từ Tôn giáo (Sàsanà). Trong ngôn ngữ hằng ngày,
ngôn ngữ của những người chẳng phân biện tinh tế, danh từ Tôn
giáo giản dị trỏ vào các đền
miếu, các tu viện, các ngôi chùa, các kiến trúc, các áo cà
sa, và v.v... Nếu có chùa chiền, miếu mạo ở khắp nơi, dân chúng sẽ
bảo: "A! Tôn giáo đang phát
triển mạnh!" Đấy là ư nghĩa
của danh từ Tôn giáo dùng trong ngôn ngữ hằng ngày.
Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ Tôn giáo
trỏ vào Chánh pháp chính hiệu, hoàn toàn phục vụ cho dân chúng
như một nơi nương tựa hoặc một điểm
để chống đỡ. Chánh Pháp
nào thực sự giúp đỡ dân chúng
làm nơi nương tựa, thực sự đủ sức làm
tiêu tan sự khổ sở (dukkha, sự dau khổ, khốn khó và
bất toại nguyện), Chánh Pháp đó mới là
Tôn giáo. Đấy mới là ư
nghĩa của chữ Tôn giáo dùng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
"Tôn giáo đang phát triển
mạnh" có nghĩa là cái điều ǵ
rất đặc biệt kia
đă có
đủ sức mạnh chấm dứt được sự
khổ sở (dukkha), điều
ấy hiện đang lan tràn và mở rộng trong dân gian. Bảo rằng
Tôn giáo đang phát
triển đâu có chút nào hàm ư
đến sự tiến bộ (...) về các áo
cà sa màu vàng. Tôn giáo trong ngôn ngữ hằng ngày là
đền miếu, tu viện, kiến trúc,
chùa chiền, cà sa, và v.v...; Tôn giáo trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp là Chơn Lư thực sự, làm nơi nương tựa cho nhơn loại.
Theo văn từ
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, Tôn giáo là "lối sống
thánh thiện hay tối hảo" (Brahmacariya), tức là muốn
nói đến một lối sống phù hợp
với Chánh Pháp. Đó là một lối
sống rất phấn khởi, "quang vinh từ lúc bắt
đầu, khoảng giữa đến hồi kết
cuộc". Bằng vào lối sống thánh thiện,
Đức Phật muốn nói đến phương
cách tu tập thực sự đem tới sự tận
diệt khổ sở (dukkha). Vinh quang của buổi
đầu là nghiên cứu và học tập;
vinh quang của khoảng giữa là sự tu tập và vinh quang của hồi kết
cuộc là phần thưởng thực sự do từ sự tu tập mang
đến. Đây là lối sống thánh
thiện, Tôn giáo theo ngôn ngữ của Chánh Pháp. Hiểu theo ngôn
ngữ thường ngày, Tôn giáo nếu xét theo nghĩa tốt
đẹp nhứt cũng chỉ là lời
Khuyến dạy; c̣n xét theo ngôn ngữ trong Chánh Pháp, Tôn giáo
chính là một lối sống thánh thiện, vinh quang từ bước
đầu, khoảng giữa và
đến hồi kết cuộc. Cả hai nghĩa
đó rất khác biệt nhau.
Công việc
Nh́n tường tận hơn vào các sự việc, ta xét
đến một danh từ có liên quan
đến đời sống hằng ngày của ta,
chữ công việc.Trong ngôn ngữ hằng ngày, Công việc trỏ vào
sự làm lụng để nuôi mạng sống. Đây là
một điều mà chẳng ai tránh
khỏi được cả. Ta cần phải làm
để có cái ăn, để làm no cái
bụng, và để thoả măn các ham
muốn nhục cảm. Cái công việc tạp dịch, chẳng thể tránh
được đó, để nuôi thân sống, là
ư nghĩa của chữ Công việc trong ngôn ngữ thường ngày.
Được dùng trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, chữ Công việc trỏ vào sự
đào luyện tâm trí (kammatthàna),
tức là sự tu tập theo Chánh Pháp. Sự tu hành thực sự theo
Chánh Pháp, đó chính là
Công việc.
Thường nhơn c̣n chưa thấy
được Chánh Pháp, làm việc v́
sự cần thiết để tự cung cấp
cho ḿnh thực phẩm và những vật mong muốn. Nhưng với người mong
cầu chân thật, người đă có cái
nh́n thoáng qua về Chánh Pháp, công việc chính là
đem Chánh Pháp ra thực tập.
Loại công việc nầy cần phải được thực
hành một cách chân thành, đứng
đắn và mẫn cán, với sự kiên
tŕ và sự phân biện. Nhiều đức
tánh cao qúi cũng cần phải có đủ,
nếu muốn cho công việc ấy được
thành tựu hoàn toàn mỹ măn.
Công việc theo như trong ngôn ngữ hằng ngày
cũng có thể được cứu xét
đến, ở cấp bực cao. Mặc dầu
công việc của ta có tánh cách thế tục, nếu ta làm công việc
đó theo con đường chơn chánh,
th́ công việc ấy sẽ dạy cho ta nhiều
điều hay. Nó mang đến cho ta sự thông
hiểu về bản chất chân thực của đời
sống tâm linh; nó sẽ giúp ta nhận chân ra
được sự vô thường, sự bất toại
nguyện và sự vô ngă (aniccam, dukkham, anattà); nó
đưa ta đến với Chơn Lư mà
chẳng cần ta phải ra công nỗ lực theo hướng
đó. Vậy th́, trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp, công việc trỏ vào sự tu tập dẫn
đến Chơn Lư t́m thấy ngay
trong chính tâm của ta. Ngay cả công việc giữ ǵn cho thân
thể được thanh khiết và
đầy
đủ sức khoẻ cũng là một loại
thực tập về Chánh Pháp trong mức độ mà
công việc ấy được làm với một
tâm trạng tốt đẹp, biết phân
biện và cần cù.
Tóm lại, Công việc trong ngôn ngữ hằng
ngày có nghĩa là làm lụng để nuôi
mạng sống v́ sự cần thiết; c̣n trong ngôn ngữ của Chánh
Pháp, đó là
đem Chánh Pháp ra tu tập. Danh
từ kammatthàna (sự đào
luyên tâm trí) có nghĩa là Công việc, là sự thực tập vững
chắc và bền bỉ về Chánh Pháp. Đấy là
ư nghĩa của chữ Công việc trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Đời sống thánh thiện.
Ta hăy nói thêm vài
điều về Lối sống Thánh
thiện. Trong ngôn ngữ hằng ngày của một người trung b́nh c̣n
chưa biết chi đến Chánh Pháp,
danh từ Đời sống thánh
thiện (Brahmacariya) chỉ có nghĩa là sự từ khước hẳn
việc hành dâm chẳng chính đáng mà
thôi. Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp,
Đời sống thánh thiện là
mọi h́nh thức của sự cố ư buông bỏ hoàn toàn mọi lậu hoặc về tinh
thần (kilesa) và là mọi h́nh thức của sự tu tập thật kiên
tŕ. Chẳng luận là lối tu tập nào ta
đang theo, nếu ta đeo đuổi
thật chân t́nh, nghiêm túc, và chẳng hề thoái chuyển, thế
là ta đang sống một cuộc đời phấn
khởi nhứt. Thánh thiện chẳng phải chỉ có nghĩa là kiêng cử
sự tà dâm và loạn luân mà thôi. Đấy là
điểm khác biệt về ư nghĩa của
chữ nầy ngôn ngữ hằng ngày và ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Niết bàn (Nibbàna).
Giờ đây, chúng ta
nhảy vọt một bước dài sang danh từ Niết bàn (Pali:
Nibbàna; Phạn: Nirvàna). Trong ngôn ngữ hằng ngày của
người thường, Niết bàn là một nơi chốn, hoặc một
đô thị.
Đó là bởi v́ các vị giảng sư
thường nói về Niết bàn như một "thành
đô của sự bất tử", hoặc "cơi
tuyệt diệu Niết bàn". Dân chúng nghe thế nên mới hiểu lầm
nghĩa chữ Niết bàn. Họ xem đó
là một nơi chốn, một kinh thành thật sự. C̣n hơn thế nữa,
họ lại tin tưởng rằng Niết bàn là một nơi tràn
đầy những sự vật tốt lành, một
nơi mà tất cả mọi ước muốn đều được
thành sự thật, và tất cả mọi
điều cần dùng đều được cung
phụng ngay lập tức. Họ muốn đến được
Niết bàn v́ đó là
nơi mà mọi ước vọng đều được thoả
măn. Đấy là Niết bàn
trong ngôn ngữ hằng ngày của những người "điên
rồ" chẳng biết chi đến Chánh
Pháp. Thế mà nó được nghe nói đến như
thế ở khắp mọi nơi, ngay cả trong chùa chiền.
Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, danh từ Niết
bàn trỏ vào sự tận diệt hoàn toàn và tuyệt
đối của bất cứ loại lậu hoặc
nào và khổ sở. Bất cứ lúc nào được
giải thoát khỏi các lậu hoặc (kilesa) và khổ sở (dukkha),
th́ đó là Niết bàn. Nếu
các lậu hoặc đă
được quét sạch hoàn toàn, th́
đó là Niết bàn vĩnh
cửu, sự tận diệt toàn vẹn và dập tắt ngọn lửa của lậu hoặc và khổ
sở. Đây mới là Niết bàn
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp. Trong ngôn ngữ hằng ngày, Niết
bàn là một đô thành lư
tưởng trong mộng; c̣n trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, Niết bàn
là sự đoạn diệt hoàn toàn
và tuyệt đối của Khổ sở (dukkha)
ngay tại đây và vào lúc nầy.
Xin hăy nghĩ lại cho chín chắn. Trong hai lối hiểu
đó về Niết bàn, lối nào
thường được phần đông dân chúng nghe
theo, nhứt là những kẻ già nua
đến chùa chiền để nghe giảng
pháp?
Đạo v à quả (Magga & phala)
Tiến nhanh hơn lên, ta
đến với từ ngữ
Đạo và Quả (Magga và Phala).
Từ ngữ Đạo và Quả thật
là b́nh dân đến nổi nó trở thành
lời nói ở đầu lưỡi. Ngay cả các người
thường, đang làm một việc ǵ cũ kỹ, cũng lại hay nói: "Đó
là do đạo quả".
Hễ có việc nào xảy ra theo đúng kế
hoạch đă
định trước, th́ họ nói: "Đấy!
Đạo quả
đó!". Trong những trường hợp
hoàn toàn thuộc về thế tục, có những người cũng rất ư là thế tục,
lại thốt lên câu: "Đấy!
Đạo quả đó nghen!",
để muốn nói lên rằng mọi việc
đă xảy ra
đúng y theo sự mong ước của
họ. Từ ngữ Đạo và Quả
đă
được xử dụng trong ngôn ngữ
hằng ngày như thế đó.
Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp,
Đạo và Quả trỏ vào sự tận
diệt của khổ sở (dukkha) và các lậu hoặc (kilesa)
vốn đă gây ra sự khổ sở. Có
làm được như thế, theo đường lối chơn
chánh, đứng
đắn, từng bước, từng bước một,
và căn cứ trên bản chất thực
sự của muôn pháp, th́ đó mới là
ư nghĩa của Đạo và Quả
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp. Dân chúng
đă dùng quá nhiều
đến từ ngữ
đó trong ngôn ngữ hằng ngày.
Ta nên hết sức cẩn thận để phân
biện rơ nghĩa thông thường hằng ngày cho
được
đúng theo nghĩa trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp.
Ma (màra).
Giờ đây, ta quay
sang một danh từ hơi kỳ lạ một chút, chữ Ma (Mara,
kẻ cám dỗ, kẻ xấu ác). Trong ngôn ngữ hằng ngày, Ma
được quan niệm như một loài
quỉ dữ, h́nh thù kỳ quái, mặt mũi, tai mắt trông thật gớm ghiếc.
Tuy nhiên, danh từ Ma trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chẳng
phải là sinh vật, mà là bất cứ loại tâm trạng nào chống
đối lại điều thiện lành và
đưa đến sự tận diệt khổ sở
(dukkha). Những ǵ cản trở và chận bít sự tiến bộ tinh
thần đều được gọi là Ma
(Màra). Ta có thể nghĩ Ma như là một sanh vật, nếu
ta muốn, trong chừng mực nào mà ta hiểu
đúng được ư nghĩa thật sự của
nó.
Có lẽ các bạn đă
nghe kể câu chuyện về Ma đi từ
cơi Tha hoá thiên (Paranimmitavasavatt́, cơi Tha hoá
tự tại Thiên) đến khuấy rối
với Đức Phật vị thành (Đức
Phật chưa thành Đạo). Đó là
Ma thực sự, kẻ đi cám
dỗ. Ma đến từ cơi Trời Tha hoá
Thiên, cơi Trời cao nhứt của Dục giới, một cơi thiên
đường tràn
đày những ǵ mà ḷng ta có thể
mong muốn đến, một nơi có một vị nào
đó luôn luôn chực sẵn để ban
cấp ngay cho ta điều ta đang ước
muốn. Đó là vị Ma cám dỗ, chớ chẳng phải các loài ma
quái với gương mặt dị hợm, h́nh thù hung tợn, miệng
đỏ ngầu lang thang
đi t́m bắt sanh vật
để hút máu. Đó là loài Ma
mà hạng người b́nh dân thất học đă
tô vẽ h́nh dáng cho. Hạng b́nh dân chẳng nhận diện ra Ma
được, khi họ chạm trán với nó.
Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ Màra
có nghĩa hơi xấu là cơi Tha hoá tự tại Thiên (Paranimitavasavatt́),
đó là cơi Trời cao nhứt trong
Dục giới. Tổng quát mà nói, Ma là bất cứ trạng thái tâm
linh nào chống đối với điều thiện
lành, chống đối với sự tiến bộ
về tâm linh. Đó là Ma
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Thế giới (loka).
Giờ đây, ta sẽ nói
đến vài điều về danh từ
Thế giới (Loka). Trong ngôn ngữ hằng ngày, chữ Thế giới
trỏ vào Trái đất nầy, thế
giới vật chất, phẳng hay tṛn tùy ư bạn quan niệm về nó. (...) Tuy
nhiên, trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ Thế giới trỏ vào
các t́nh trạng tâm linh thế tục (lokiya), các giai tầng thế
tục của sự phát triển tinh thần -- tức là muốn nói
đến sự Khổ sở (Dukkha).
T́nh trạng vô thường, biến đổi, bất
toại nguyện, đó là t́nh trạng
thế tục của tâm trí. Và chính đó ư
nghĩa của chữ Thế giới, trong ngôn ngữ của Chánh Pháp. Và
cũng do đó mà Thế giới
cũng là Khổ sở (Dukkha) và Khổ sở cũng là
Thế giới. Khi Đức Phật thuyết
giảng Tứ Diệu đế (Ariya
sacca, Thánh đế, Chơn lư
Nhiệm mầu), Ngài đôi khi dùng
danh từ Thế giới, và đôi khi
danh từ Khổ sở. Cả hai danh từ là một và cùng là một
thứ như nhau. Thí dụ như, khi Ngài nói:
Thế giới;
Nguyên nhân của sự khởi sanh của Thế giới;
Sự tận diệt của Thế giới;
Con đường đi đến sự tận diệt
của Thế giới.
Điều m à Ngài muốn nói ở
đây là:
Khổ (Dukkha)
Nguyên nhân của Khổ;
Sự tận diệt của Khổ;
Con đường đi đến sự tận diệt
của Khổ.
Vậy th́, theo ngôn từ của
Đức Phật, trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, danh từ Thế giới trỏ vào sự Khổ sở (Dukkha),
và sự Khổ sở cùng Thế giới chỉ là một, cả hai chữ cùng là một thứ
như nhau.
Nh́n dưới một khiá cạnh khác, chữ Thế giới,
Thế tục trỏ vào các sự vật thấp, cạn,(...) và chẳng bằng
được với các tiềm năng
cao nhứt của chúng. Thí dụ như ta nói vật nầy, vật kia như là
thế tục, với ư nghĩa muốn gán cho chúng là chúng chẳng phải
là Chánh Pháp. Đây là một
nghĩa khác nữa của chữ Thế giới, Thế tục, trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp. Thế giới đâu
phải luôn luôn giản dị trỏ vào Trái
Đất, như trong ngôn ngữ b́nh
dân hằng ngày.
Sanh
Giờ đây, tiến lên
cao hơn một chút, ta xét đến chữ Sanh
(Jàti). Trong ngôn ngữ thường ngày, chữ Sanh
trỏ vào việc chào đời, ra khỏi bụng
mẹ. Một người chỉ sanh ra có mỗi một lần thôi. Sanh ra đời, ta
sống trên thế giới nầy cho đến
ngày chết, nhập vào quan tài. Sự sanh chỉ xảy cho ta một
lần và sanh ra khỏi bụng mẹ, đó là
ư nghĩa của chữ Sanh trong ngôn ngữ thông thường.
Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ Sanh
trỏ vào việc phát khởi lên của cái "Ta" hay là cái "bản ngă", xảy
ra ngày ngày, trong tâm trí. Theo nghĩa nầy, thường nhơn sanh ra
lắm lần, hết lần nầy đến lần khác, liên
miên; một người tiến bộ hơn th́ sanh ít lần hơn trong ngày; c̣n
một vị đă tiến xa trên con
đường tu tập theo Chánh Pháp,
bực Thánh nhơn (Ariyan, Thánh), th́ lại sanh càng ít hơn
nữa, cho đến ngưng cả việc sanh luôn.
Mỗi khi ư tưởng "Ta" khởi sanh lên trong tâm, dưới h́nh
thức nầy hay h́nh thức khác, đó gọi là
sanh. Như thế sự sanh có thể xảy ra nhiều lần trong
mỗi một ngày. Hễ lúc nào một người mà suy nghĩ như một con thú,
th́ người ấy lại được sanh
ra như là một con thú, ngay trong lúc
đó. Suy nghĩ như một con người
th́ được sanh ra như
con người liền. Suy nghĩ như một bực Trời th́ liền
được sanh ra làm bực
Thiên. Đời sống, cá nhân, sự
thích thú, sự khổ đau, và
những ǵ c̣n lại -- tất cả những thứ
đó đều được Đức Phật nhận diện ra, giản dị chỉ là các tâm
trạng nhứt thời. Vậy, chữ sanh có nghĩa trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp là sự khởi sanh lên ư tưởng cái "Ta", "Tôi", và chẳng
phải là việc rời bụng mẹ ra chào đời
như trong ngôn ngữ thường nhựt.
Chữ Sanh rất thường thấy trong các bài
thuyết pháp của Đức Phật. Khi Ngài
nói đến những sự vật thường
ngày, th́ Ngài dùng chữ Sanh theo nghĩa thường ngày. Nhưng
khi Ngài giảng các Pháp Tối Cao -- thí dụ như khi bàn luận về Lư
Nhân Duyên (paticca samuppàda) -- Ngài dùng chữ Sanh
(Jàti) với nghĩa theo ngôn ngữ trong Chánh Pháp. Trong sự
mô tả về Lư Duyên Sanh, Ngài chẳng nói
đến sự sanh sản theo
nghĩa vật lư. Ngài muốn nói đến việc
khởi sanh của sự luyến ái vào các ư tưởng "Ta" và
"của Ta", "bản thân Ta", "chính ta".
Chết.
Tiếp theo, xin cứu xét
đến chữ Chết. Chữ Chết
trong ngôn ngữ thông thường có nghĩa là một biến cố xảy ra, khi
phải đặt một kẻ nào vào quan
tài và đem thiêu hoá hay chôn
xuống đất. Nhưng trong ngôn
ngữ của Chánh Pháp, chữ Chết trỏ vào sự diệt tận của một ư
tưởng vừa được nêu lên một
chốc trước đây, sự biến diệt
của ư tưởng "cái Ta", hoặc "Tôi". Sự chấm dứt hẳn một ư tưởng ,
đó là
điều mà chữ Chết, (Diệt),
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, muốn nói
đến.
Cuộc đời.
Xin được nói đến
chữ Cuộc đời. Chữ nầy trong ngôn ngữ hằng ngày của những
người cón chưa được trưởng
thành về tâm trí, ứng dụng vào tất cả những ǵ c̣n chưa chết, vẫn
c̣n hiện hữu, đi, đứng, di chuyển và
ăn uống. Trong ngôn ngữ chính
xác hơn của ngành Sinh lư học, chữ đó
trỏ vào sự sanh hoạt của nguyên sinh chất (protoplasm),
của tế bào và hạch tâm. Sự sanh hoạt b́nh thường và sự phát triển
của các sinh vật đó được gọi là
cuộc đời.
Đây là một quan niệm quá duy
vật về chữ đời sống
trong ngôn ngữ thường nhựt.
Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, Cuộc
Đời trỏ vào một t́nh trạng
bất tử, (tức là một t́nh trạng chẳng bao giờ chết), một t́nh trạng
chẳng bị điều kiện hoá, (tức
là t́nh trạng vô vi), tức là nói
đến Niết bàn (Nibbàna),
sự sống chẳng có giới hạn nào. Đó là
Cuộc Đời. Khi ta nói
bằng ngôn ngữ hằng ngày, chữ Cuộc
Đời mang lấy cái nghĩa hằng ngày. Nhưng nếu ta nói
đến ngôn ngữ của Chánh Pháp,
th́ Cuộc Đời lại trỏ
vào một t́nh trạng bất tử. Khi đă
chẳng có sanh, th́ làm sao có tử (chết)
được?
Đó là t́nh trạng chẳng bị
điều kiện hoá, một pháp vô
vi. Nó được gọi là Niết
bàn (Nibbàna); và các tôn giáo khác gọi
đó là cuộc sống vĩnh hằng.
Đó là một cuộc
đời chẳng bao
đến mức tận cùng cả.
Đó là
đời sống trong Thượng
Đế, hay bất cứ danh xưng nào
mà bạn muốn đặt cho. Đó mới thật là
cuộc đời chơn thật,
cuộc đời được hiểu theo nghĩa
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Con Người.
Bây giờ, ta lại về gần nhà hơn, khi xét
đến chữ Con Người .Thường ta chẳng
nghĩ chi, khi nói đến chữ "con người, con người "
luôn miệng. Mỗi người đều là
con người cả. Nhưng ta phải nên thận trọng, ở
đây, bởi v́ chữ con người
đó có hai nghĩa khác nhau.
Trong ngôn ngữ thường nhựt, con người trỏ vào một sanh vật
với thân h́nh thể chất được gọi
"người".
Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ con
người trỏ vào các đức tánh
đặc biệt hàm xúc trong chữ
người -- có nghĩa là "có được một
tâm trí cao", hoặc là "có đức
độ cao" -- với những
đức tánh tâm linh cao qúi.
Điều nầy cũng chẳng quá khó hiểu. Nếu
có ai chỉ trích một người bạn, bảo rằng: "Anh chẳng phải là
con người!", lời mắng mỏ đó có
nghĩa ra làm sao? Người bị chỉ trích cũng vẫn có một thân
h́nh người, giống y như người đang
chỉ trích. Thế th́ tại sao người ấy lại mắng kẻ kia chẳng
phải là con người ? Lư do là kẻ bị chỉ trích thiếu mất vài
đức tánh
đặc biệt hàm chứa trong danh
từ con người. V́ khiếm khuyết các
đức tánh ấy, nên mới bị mắng
là chẳng phải con người. Như thế, chữ con người có
hai nghĩa khác nhau. Trong ngôn ngữ thông thường, nó chỉ
đến một sanh vật có thân h́nh
người. Trong ngôn ngữ Chánh Pháp, nó trỏ các
đức tánh tâm linh cao qúi hàm
chứa trong chữ người.
Thượng đế.
Giờ đây, ta xét
đến chữ Thượng Đế.
Trong ngôn ngữ thường nhựt, chữ Thượng
đế trỏ vào một bực Trời
với các quyền năng sáng tạo.
(...) C̣n trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, nghĩa chữ Thượng
đế lại khác hẳn. Thượng
Đế theo nghĩa trong Chánh Pháp
là một quyền năng tiềm ẩn sâu
xa, chẳng phải là một người, một bực Trời, hay bất cứ loài sinh
vật nào. Thượng Đế chẳng có cá
nhơn tính, chẳng có tự ngă, và hoàn toàn vô ngă. Thượng
Đế th́ tự nhiên (natural),
chẳng thể tiếp xúc đến được (intangible).
Đó là
điều mà ta gọi là
Định Luật của Thiên Nhiên, bởi
v́ chính định luật nầy chịu
trách nhiệm để sáng tạo và
khởi sanh ra muôn sự vật. Luật Thiên Nhiên ngự trị lên tất cả.
Luật Thiên Nhiên có quyền lực đối với
tất cả. Do đó, trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ Thượng
đế có nghĩa là
Định Luật của Thiên Nhiên, mà
người Phật tử lại gọi là Chánh Pháp. Trong tiếng Pali,
Định Luật của Thiên Nhiên
được gọi giản dị là Dhamma,
tức là Pháp; chỉ có mỗi một danh từ thôi
để chỉ toàn thể các
Định Luật của Thiên Nhiên.
Vậy, Dhamma, Pháp, là Thượng
đế của Phật giáo.
Các nẻo (tái sanh) xấu ác.
Giờ đây, ta hăy
nh́n hướng về phiá dưới, vào bốn nèo (tái sanh) xấu ác (Apaya).
Các nẻo xấu ác nầy là các cảnh giới thấp. Thông thường, có bốn cơi
được nhận ra: (1) địa
ngục (maraka), (2) súc sanh (tiracchana),
cơi của thú vật; (3) ngạ quỉ (peta), cơi của loài
quỉ đói, và (4) a-tu-la
(asura, hay là asurakàya), cơi của thần linh hung dữ
(c̣n gọi là bực Phi thiên). Bốn cơi nầy
được gọi chung là bốn nẻo
(tái sanh) xấu ác. Bốn cơi đó
được minh hoạ trên vách tường của các tu viện.
Địa ngục, súc sanh, quỉ
đói, và a-tu-la
được vẽ ra theo các sự tin
tưởng truyền thống, với ư nghĩa là sẽ
được tái sanh vào bốn cơi đó
sau khi chết. Nói cách khác, theo ngôn ngữ thường ngày, bốn
nẻo xấu ác đó được giải thích
theo quan điểm duy vật. Các
loài quỉ sứ ở điạ ngục, loài
thú vật, và v.v. được xem như là
những sanh vật có thật, rất thấp hèn, và máu thịt bê bết.
Trong ngôn ngữ hằng ngày,
điạ ngục là một vùng ở sâu
dưới đất. Cơi nầy
được vị Diêm vương cai trị,
bắt dân chúng (có tội ác) đến đấy và
trừng trị họ với nhiều loại h́nh phạt khác nhau.
Đó là nơi mà rất có thể ta sẽ
đi đến sau khi chết. Trong ngôn
ngữ của Chánh Pháp, địa ngục
được hiểu đối ngược lại, là sự
ưu sầu nung đốt như ngọn lửa cháy.
Mỗi khi ta bị ưu sầu dày ṿ, nung nấu ta tựa như lửa
đốt, đó là ta
đang ở cơi
điạ ngục,
điạ ngục theo nghĩa của ngôn
ngữ trong Chánh Pháp. Kẻ nào đang vùi
nướng ḿnh trong ưu sầu, có khác chi lấy lửa mà tự thiêu, nên
được gọi là
đang rơi xuống điạ ngục vào
chính ngay lúc đó. Và sự ưu
sầu mang nhiều h́nh thức khác nhau, th́
điạ ngục cũng có nhiều loại,
tương đương với các trạng thái
ưu sầu.
Đến c ơi súc sanh (tiracchàna),
trong ngôn ngữ hằng ngày, sanh ra làm con thú có nghĩa là khi chào
đời mang h́nh dạng con heo,
con chó, hoặc con thú thật sự nào khác.
Đầu thai lại làm một loài thú
vật nào, theo ngôn ngữ b́nh dân, có nghĩa là tái sanh vào cơi súc
sanh. Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, nghĩa lại khác. Khi kẻ nào
quá khờ khạo, tựa như con thú câm, thế là ngay vào lúc
đó, kẻ ấy được sanh vào cơi
súc sanh. Điều đó xảy ra ngay tại đây
và vào lúc nầy. Ta có thể sanh ra làm thú vật nhiều lần
trong một ngày. Do đó, trong ngôn
ngữ của Chánh Pháp, sanh làm súc sanh có nghĩa là ngu khờ.
Danh từ quỉ đói
(peta) trong ngôn ngữ hằng ngày trỏ vào một sanh
vật miệng th́ nhỏ và bụng th́ to. Nó chẳng t́m ra
được cách nào
ăn cho đủ no, v́ thế nó bị
đói kinh niên.
Đây cũng là một h́nh thức mà
ta có thể tái sanh lại sau khi chết. (...) Trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, ngạ quỉ chỉ là những t́nh trạng tinh thần mà
thôi. Sự tham lam, dựa trên sự khao khát -- hễ bị vướng vào các
tâm trạng đó, th́ có nghĩa là
đang sanh ra vào hàng quỉ
đói. Các triệu chứng
đó cũng giống như cảnh trạng
đang mang phải một cái bụng to bằng ḥn
núi mà miệng lại nhỏ bằng đầu cây
kim. Kẻ nào đang đau
khổ v́ sự khao khát cuồng nhiệt, một căn
bệnh giống như bị khát (nước), kẻ nào
đang quá ưu sầu, cằn nhằn, càu
nhàu, cũng có đủ các triệu
chứng như loài quỉ đói vậy. Những kẻ
ấy được gọi là những người
đang tái sanh vào hàng ngạ quỉ, ngay bây giờ và tại
đây. Điều đó chẳng phải chỉ xảy ra
sau khi chết.
Đối với loài a-tu-la (asura),
(...), trong ngôn ngữ hằng ngày, a-tu-la là một loại sanh vật mà
h́nh dạng chẳng thể thấy được. Nó đi
ám ảnh, lang thang măi khắp chốn, nhưng lại nhát sợ chẳng
dám để lộ thân h́nh ra. Trong
ngôn ngữ của Chánh Pháp, danh từ a-tu-la (asura) có
nghĩa là sự sợ hăi trong tâm con người. Tái sanh làm a-tu-la chẳng
nhứt thiết phải có tấm thân đă
chết đi. Mỗi khi kẻ nào khiếp
sợ, th́ đồng thời lại bị tái
sanh vào cơi a-tu-la. Sợ hăi vô cớ, bị khủng khiếp quá, hoặc v́ mê
tín dị đoan run sợ trước các
sanh vật vô hại -- đó là tái
sanh vào cơi a-tu-la. Vài người sợ hăi khi phải làm việc lành. Vài
người khác lại sợ rằng khi chứng đắc
được Niết bàn (Nibbàna) rồi th́ cuộc
đời sẽ bị mất hết cả hương vị
và trở nên vô cùng lạt lẽo. Thật ra cũng lắm kẻ
đă có mối sợ hăi về Niết bàn
như thế. Để vướng mắc vào các
mối lo sợ chẳng có lư do chính đáng nào
cả như thế, tức là tái sanh vào cảnh giới a tu a ngay tại
đây và bây giờ.
Đó l à bốn cảnh giới xấu ác như
đă
được hiểu theo ngôn ngữ của
Chánh Pháp. Thật ra, chúng chẳng giống với các nẻo tái sanh xấu ác
trong ngôn ngữ hằng ngày. Giờ đây có
một điểm đáng cho ta suy
nghĩ lại, có liên quan tới các cảnh giới xấu ác. Nếu ta chẳng bị
rơi vào các nẻo xấu ác nói trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, th́ chắc
chắn ta sẽ chẳng bị lọt vào các nẻo xấu ác nói trong ngôn ngữ hằng
ngày. Thí dụ như, nếu ta tránh được
các lỗi lầm khiến khởi lên nỗi ưu sầu phải mang lấy, th́ ta
cũng đang tránh khỏi bị rơi vào
điạ ngục ngay trong cơi
đời nầy. Và
đồng thời, ta cũng đâu cần chi phải
lo sẽ bị rơi vào điạ
ngục sau khi chết. Lại nữa, nếu ta tránh sao cho khỏi ngu khờ như
loài thú vật, khỏi háu đói như loài
ngạ quỉ, và khỏi nhát sợ như loài a-tu-la, th́ ta cũng thoát
được các thái
độ thiếu khéo léo
đó có thể sẽ làm nguyên nhân
cho các cuộc tái sanh về sau làm súc sanh, hay ngạ quỉ, hoặc
a-tu-la.
Vậy th́, bổn phận của chúng ta là chỉ quan tâm
đến các nẻo xấu ác
đó, đến mức nào mà ta thấy có
nguy cơ vướng phải ngay tại đây và
hiện giờ. Nguy cơ mà ta sẽ bị rơi vào các t́nh trạng xấu ác
đó, v́ thế,
đă có thể gạt qua một bên. Ta
đâu cần chi phải quá lo lắng
v́ chúng. Nếu ngay bây giờ và tại
đây, ta tránh được cơi quỉ đói
và các nẻo xấu ác khác nói trong ngôn ngữ của Chánh Pháp,
th́ dầu có chết cách nào đi nữa, ta
cũng vẫn chắc chắn chẳng hề lọt vào các nẻo xấu ác nói
trong ngôn ngữ hằng ngày. Nếu ta thực tập
đúng
đắn theo Chánh pháp và sống
cuộc đời chơn thiện, ta tránh
được, ngay bây giờ và tại
đây, các nẻo ác đó, th́ rồi
ra, ta cũng sẽ chắc chắn chẳng rơi vào các
đường dữ khi tái sanh,
đă
được tin rằng vẫn chờ sẵn đấy sau khi
ta chết.
Phần đông dân
chúng đều nhận thức được rằng
thiên đường và
điạ ngục chỉ là những t́nh
trạng của tâm trí. Thế th́ tại sao họ lại
điên rồ
đi hiểu lầm ư nghĩa của bốn
nẻo tái sanh xấu ác mà xét ra cho cùng, cũng là một phần lớn của
cuộc đời nầy? Thiệt t́nh mà
nói, thiên đường và
điạ ngục trong ngôn ngữ hằng
ngày là những cảnh giới ở bên ngoài -- nhưng
đừng cắc cớ hỏi tôi chúng hiện
ở chỗ nào -- và sẽ tới đó sau khi
chết; nhưng c̣n thiên đường và
điạ ngục nói trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp th́ được t́m
thấy ngay ở trong tâm, và hiện khởi ra bất cứ lúc nào, tùy theo
tâm trạng đương thời của con
người. Đấy là
điểm sai biệt về ư nghĩa trong
hai thứ ngôn ngữ về các nẻo tái sanh.
Thiên đường.
Thiên đường
trong ngôn ngữ hằng ngày có nghĩa là một cảnh giới nào
đó trên cơi Trời cao, tuyệt
vời, hết sức hấp dẫn. Xuất ra một số tiền ít nhiều
để tạo phước (bố thí, cúng
dường) và rồi bạn sẽ có quyền sẽ làm chủ một ngôi
đền
đài trên cơi thiên
đường, nơi mà có hàng trăm
vị thiên thần phục dịch. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, thiên đường
trước hết là hạnh phước cao qúi nhứt làm say
đắm các giác quan.
Đó là cơi Trời thấp nhứt, cơi
dục giới. Cao hơn nữa là cơi Phạm thiên, Brahmaloka, nơi
chẳng c̣n đối tượng của dục
cảm nữa. Đó là một t́nh trạng
tâm linh an lạc, kết quả của sự vắng bóng mọi khuấy
động về nhục cảm.
Đó cũng như là
đối với một người trước kia khao
khát các nhục dục, đă thoả măn
hết mọi mong muốn cho đến mức nay đă
hoàn toàn chán ngấy các đối
tượng về các cảm xúc. Rồi th́ ông ta chỉ c̣n muốn
được sự rỗng vắng, an
định, chẳng c̣n xúc chạm ǵ
nữa. Đây là t́nh trạng
được giải thoát ra khỏi nhục
cảm, của các vị Phạm thiên (Brahma) trên cơi Trời Phạm.
Trong số các cơi Trời thấp c̣n đầy tràn
dục cảm, cơi Tha hoá tự tại Thiên (Paranimmitavasavat́) là
cơi cao nhứt. Các cơi Trời Phạm thiên (Brahmaloka) trái
lại, chẳng c̣n dục cảm, nhưng vẫn c̣n cái tự ngă, cái "Ta".
Tiên Dược.
Giờ đây xin nói
qua về danh từ Tiên dược, chất rượu tiên có công dụng
trường sanh bất tử. Trong ngôn ngữ hằng ngày, Tiên dược là
một loại rượu mà các vị Trời thường dùng
để làm cho thân thể chẳng thể
nào bị thương tích trước khi ra trận (...) Trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, nghĩa của danh từ đó
chính là Chánh Pháp cao cả nhứt, Chơn Lư về vô ngă (anattà,
hoặc là về rỗng vắng (sunnatà, không tánh).
Chánh Pháp cao cả đó, Chơn Lư
về vô ngă, hay là về sự rỗng vắng, khiến cho một người trở thành
bất tử, bởi v́ nó mang đến sự giải
thoát ra khỏi ư niệm "tự ngă". Khi chẳng c̣n có cái "Ta" nữa, th́
làm thế nào mà có sự chết được?
Vậy th́, trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chất tiên dược của cuộc
đời chính là Chơn lư về sự vô
ngă, hay là về sự rỗng vắng. C̣n về thứ rượu tiên
được tin rằng có đủ hiệu năng
ban cấp một cuộc đời vĩnh
hằng cho người uống, đấy là
nghĩa của chữ Tiên dược trong ngôn ngữ hằng ngày của những
người điên rồ, ngôn ngữ của
hạng dân chúng c̣n chưa cảm nhận và thấu hiểu nổi Chơn Lư.
Sự rỗng vắng (sunnatà, không tánh).
Vừa rồi chúng ta có nói
đến danh từ Sự rỗng vắng (Sunnatà,
tánh Không). Hăy cứu xét kỹ đến
chữ nầy. Sunnatà là tiếng Pali; Sunna có
nghĩa là rỗng rang, hay là trống vắng; c̣n tà
tương đương với chữ tánh,
bản tánh, tánh chất. Sunnatà là sự rỗng rang, hoặc là
sự trống vắng. Trong ngôn ngữ hằng ngày của những người c̣n chưa
thấy hay chưa thấu hiểu về Chơn Lư, sự rỗng vắng chỉ giản dị có
nghĩa là sự khiếm khuyết chẳng có chứa
đựng ǵ cả, một sự trống vắng
vật lư, một khoảng trống không, hay là một sự "không ngơ".(...)
Không tánh (Sunnatà) trong ngôn ngữ của Chánh Pháp
lại hoàn toàn khác hẳn thế. Ngay đây,
bất cứ sự vật ǵ, thuộc bất cứ loại nào, có thể có mặt ở
đó bằng bất cứ số lượng nào,
với một ngoại lệ duy nhứt: ư tưởng "ta" và "của ta"th́ chẳng thể
có mặt ở đó được. Mọi sự vật
đều có thể hiện diện ở
đó, chẳng luận là thuộc loại
nào mà ta có thể nghĩ ra được, trên
điạ hạt vật chất hoặc trong
phạm vi các hiện tượng tâm linh, mà chỉ ngoại trừ có mỗi một
điều là ư tưởng về cái "Ta"
hay là về "của Ta"ra. Chẳng có cái "Ta", chẳng có cái ǵ "của Ta",
đó mới là sự rỗng vắng
(Sunnatà), hay không tánh như
được hiểu theo nghĩa trong
ngôn ngữ của Chánh Pháp, theo ngôn từ của
Đức Phật.
Thế gian nầy rỗng vắng. Rỗng vắng về cái ǵ?
Rỗng vắng về cái "ngă", về cái "Ta", và bất cứ cái ǵ thuộc về
"của Ta". Với ngoại lệ duy nhứt đó,
mọi sự vật đều có thể có mặt,
như thế măi cho tới chừng nào mà chẳng có sự vật nào
được xem như là "Ta", hay là
"của Ta". Đấy mới đúng là
tánh Không, sự rỗng vắng, trong ngôn ngữ của Chánh Pháp. Khi
Đức Phật nói đến tánh
Không, Ngài nói theo ngôn ngữ của Chánh Pháp. Các người
điên rồ lại hiểu theo kiễu
ngôn ngữ hằng ngày và xem đó là
chẳng có ǵ ráo trọi trên thế gian nầy, chỉ một sự không ngơ,
trống dọc! Nếu danh từ tánh Không, sự rỗng vắng, mà
được giải thích sai lầm theo
ngôn ngữ hằng ngày, th́ các lời giảng dạy của
Đức Phật sẽ trở thành vô ư
nghĩa. Bọn người điên rồ
đó lại thốt lên nhiều lời xác
quyết lạ lùng chẳng dính dấp chi đến
sự rỗng vắng, cái tánh Không của
Đức Phật đă dạy cả.
Tôi hi vọng các bạn sẽ quan tâm nhiều
đến vấn
đề nầy và ghi nhớ kỹ vào ḷng.
Danh từ rỗng vắng khi được ứng
dụng vào các sự vật vật chất, lẽ tự nhiên sẽ có nghĩa là sự vắng
bóng của mọi vật được chứa đựng trong
đó; nhưng khi danh từ ấy được
dùng trong một bối cảnh siêu h́nh, th́ nó có nghĩa là, mặc
dầu mọi điều, bất cứ thuộc loại nào,
cũng có thể có mặt, nhưng vẫn khiếm khuyết hoàn toàn về cái "Ta"
hoặc cái "của Ta". Trên điạ
hạt vật lư, trong phạm vi tinh thần, hoặc tại bất cứ nơi nào, cũng
chưa hề có đặng cái điều được gọi là
"Ta", hoặc "của Ta" cả. "Ta", hay là"của Ta", chẳng hề hiện hữu.
Chúng chẳng thật có, chỉ là những ảo tưởng suông, do
đó mà thế gian nầy
được mô tả là rỗng vắng.
Đâu phải thế gian nầy
chẳng chứa đựng ǵ cả. Sự vật
nào cũng đều có ở đó, và có
thể được đem ra xử dụng với sự
phân biện sáng suốt. Cứ tiến lên,
đừng ngại chi và xử dụng nó
đi. Tuy nhiên, chỉ nên nhớ một
điều thôi, đó là đừng đi tạo
ra thêm các ư tưởng về "Ta" và "của Ta"!
Như thế, trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, rỗng
vắng chẳng có nghĩa là "chẳng chứa
đựng ǵ ráo trọi". Kẻ nào c̣n chưa thấu hiểu nổi
điều vừa nói đây, là kẻ c̣n mê
mờ về Chánh Pháp, c̣n mờ mịt với ngôn ngữ của Chánh Pháp. Kẻ ấy
chỉ biết nói theo ngôn ngữ thông thường mà thôi. Nếu ta cứ lấy cái
ư nghĩa trong ngôn ngữ hằng ngày mà
đem gán ép vào trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, th́ làm sao
mà hiểu nổi được chút ít ư
nghĩa nào của Chánh Pháp? Xin hăy đặc
biệt nỗ lực để thông suốt cho
được danh từ tánh Không
nầy. Nó có đến hai nghĩa khác
hẳn nhau.
Dừng lại.
Giờ đây, ta đến
với động từ Dừng lại. Dừng lại có nghĩa là chẳng di
chuyển, chẳng động
đậy, trong ngôn ngữ hằng ngày
của thường nhơn. Đó chỉ là một
ư nghĩa của chữ ấy. Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, trong lời nói
của Đức Phật, dừng lại
có một nghĩa nữa khác hẳn. Để giản
dị hoá vấn đề, hăy
đưa ra một thí dụ. Khi tướng cướp Chỉ
Man bảo: "Dừng lại!", anh ta muốn nói một
điều, và khi
Đức Phật nói: "Dừng lại!",
Ngài lại muốn nói đến với một
nghĩa khác hẳn. Nếu bạn đă
có nghe qua tích chuyện Chỉ Man rồi, bạn sẽ quen thuộc với sự
đối
đáp giữa anh ta và
Đức Phật. Chỉ Man khi dùng
động từ Dừng lại,
đă nói theo ngôn ngữ hằng
ngày; c̣n Đức Phật khi dùng
động từ
đó, Ngài
đă nói theo ngôn ngữ của Chánh
Pháp. (Xin xem Kinh Chỉ Man, Trung Bộ Kinh, II, 86;
Angulimala Sutta, Majjhima Nikaya, II, 86. Angulimala, tên của
một tướng cướp, được dịch là
Chỉ Man, hay là Vô Năo, phiên âm là Ương quật ma la).
Trong ngôn ngữ của người thường, dừng lại
có nghĩa đứng yên lại,
chẳng di chuyển; nhưng trong ngôn từ của
Đức Phật, dừng lại có
nghĩa là trở nên rỗng vắng về tự ngă. Nếu
đă chẳng có tự ngă, cái Ta,
th́ lấy ai, lấy cái ǵ để di
động mà nay phải dừng lại? Cớ
sao lại chẳng chịu nghĩ đến điểm nầy?
Nếu chẳng có cái Ta, th́ Ta ở đâu mà
chạy đi? Rơ ràng là chính cái
Ta đă dừng lại.
Đó là dừng lại trong
ngôn từ của Đức Phật, -- sự
vắng mặt của bất cứ cái tự ngă nào để
bám chặt vào và đeo níu
măi, một sự rỗng vắng tuyệt đối về tự
ngă.
Dừng lại cùng là một thứ với rỗng vắng.
Đó là ư nghĩa của dừng
lại trong ngôn từ của Đức Phật.
Ta có thể đang chạy đi, về phương diện thể chất, nhưng vẫn
được coi như đă dừng lại,
bởi v́ chẳng c̣n sót lại cái "Ta"nào, cái "tự ngă" nào
để chạy rong. Mọi h́nh thức
của sự mong muốn, của sự khát khao đă
dừng lại. Chẳng có cái "Ta"đang muốn
điều ǵ ở tại đâu; chẳng có
cái "Ta" đang chạy đôn chạy
đáo. Một người mà c̣n sự ham muốn, cứ chạy quanh
để t́m ra vật nầy vật nọ, ngay
cả đến việc làm
điều thiện hay để tạo phước. Chạy
loanh quanh, t́m kiếm nọ kia, ở chỗ nầy chốn khác, và khắp
nơi -- đó là
đang chạy. Nhưng nếu người ấy biết dàn
xếp để ngừng lại hoàn toàn sự
ham muốn, để ngừng lại, thôi
chẳng là cái ‘Ta" nữa, th́ ngay cả như
đang bay trên phi cơ cũng
được xem như đă dừng lại
rồi. Bạn hăy học cách phân biệt rơ ràng hai nghĩa
đó của động từ dừng lại
và thông hiểu chúng cho thật đúng.
Điều nầy sẽ giúp bạn hiểu rơ thêm lời dạy về sự rỗng
vắng, về tánh Không.
Ánh sáng.
Nếu tôi cứ tiếp tục bàn luận các vấn
đề sâu xa
đó măi th́ bạn sẽ buồn ngủ
mất, vậy xin chọn một chữ khác dễ hơn -- ánh sáng. Khi ta nói
đến ánh sáng, thông
thường ta nghĩ đến ánh sáng
đèn, ánh sáng mặt trời, ánh
sáng điện khí, hoặc một loại
ánh sáng vật chất nào khác. Đây là
nghĩa chữ ánh sáng trong ngôn ngữ hằng ngày. Trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp, theo ngôn từ của Đức
Phật, chữ ánh sáng trỏ vào sự minh triết, kiến thức
cao, trí huệ, Bát nhă (Panna). Ngay cả khi
Đức Phật đi đến một hang
động tối om và ngồi xuống, th́
cũng có ánh sáng, theo nghĩa là ánh sáng của sự minh
triết, của kiến thức cao. Trong một đêm
chẳng trăng sao, khi mọi ngọn đèn
đă tắt hết, cũng vẫn có thể
ngồi trong ánh sáng, nếu có sự minh triết và kiến thức cao
nơi tâm người đang thực tập
một cách chân t́nh. Đó là
ánh sáng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Tối ṃ (sự vô minh).
Giờ đến chữ
Tối ṃ. Trong ngôn ngữ thông thường hằng ngày, Tối ṃ là sự
vắng bóng của ánh sáng làm cho chẳng thể nh́n thấy
được ǵ. Trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, tối ṃ là sự khiếm khuyết về minh triết, mê mờ
về Chơn Lư, mù loà về phương diện tâm linh, tức là sự vô minh
(avijjà). Đây mới thực
sự là sự tối tăm. Nếu một người c̣n
thiếu sự minh triết thật sự, đến ngồi
dưới ánh nắng chan hoà, người ấy vẫn c̣n
đang ch́m
đắm trong sự tối tăm,
sự tối tăm của vô
minh chưa nhận ra được bản
chất chơn thật của mọi sự vật. Đó là
chỗ sai biệt giữa hai nghĩa của sự tối ṃ trong ngôn ngữ
hằng ngày và trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Nghiệp (kamma).
Giờ đây ta đến với
chữ Nghiệp (Phạn: Karma, Pali: Kamma). Khi
thường dân nói: "Đó là
nghiệp đấy!", th́ họ nghĩ
là: "Xấu quá!". Vận xấu, như là một sự trừng phạt về các tội lỗi
đă phạm,
đó là ư nghĩa mà thường dân
thường gán cho chữ Nghiệp. Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh
Pháp, chữ Nghiệp trỏ vào điều
ǵ khác hơn. Nghiệp là hành
động. Hành
động xấu xa
được gọi là hắc nghiệp,
cái nghiệp đen, xấu; c̣n hành
động tốt là bạch nghiêp,
cái nghiệp trắng, đẹp. Rồi lại có
một loại nghiệp khác
đáng lưu tâm hơn, cái nghiệp chẳng
đen mà cũng chẳng trắng, cái
nghiệp (kamma) để hoá
giải cả hai nghiệp xấu và tốt kia. Tiếc thay, càng nghe nói nhiều
về nghiệp ấy, người ta lại càng chẳng hiểu rơ nó. Loại nghiệp thứ
ba nầy là sự thực hiện của vô ngă (anattà) và
tánh không (sunnatà), khiến cho cái "tự ngă" bị dẹp bỏ
đi. Loại hành
động nầy có thể được gọi là
nghiệp trong Phật học, cái nghiệp thật sự, cái nghiệp mà chính
Đức Phật đă giảng.
Đức Phật dạy phải vượt khỏi lên
trên tất cả mọi nghiệp.
Phần đông dân
chúng chỉ chú ư đến
hắc nghiệp, nghiệp đen, xấu và
bạch nghiệp, nghiệp trắng, tốt. Họ chẳng lưu tâm ǵ
đến loại nghiệp thứ ba, chẳng đen
cũng chẳng trắng, chẳng xấu cũng chẳng tốt, mà có khả năng
thành tựu được sự giải
thoát ra khỏi tự ngă và dẫn tới sự chứng
đắc Niết bàn (Nibbàna).
Nghiệp thứ ba nầy quét sạch tất cả mọi loại nghiệp xấu và nghiệp
tốt. Dân chúng c̣n chưa hiểu được
phương pháp quét sạch nghiệp cho dứt hết hoàn toàn.
Họ chẳng biết rằng đường lối
chấm dứt tất cả nghiệp là xuyên qua một loại nghiệp
đặc biệt, bằng cách áp dụng
phương pháp của Đức Phật. Phương
pháp đó đâu có chi khác hơn là
chính con đường Bát Chánh
Đạo.
Sự thực tập theo con
đường Bát Chánh
Đạo chính là nghiêp
chẳng trắng chẳng đen, chấm dứt hết
được tất cả nghiệp. Đó
mới là chữ Nghiệp trong ngôn ngữ của Chánh Pháp. Nó
khác hẳn với chữ nghiệp của những người thường dân c̣n chưa
trưởng thành về tâm linh; họ cứ thốt lên: "—!
Đó là nghiệp
đấy!", khi họ chỉ muốn nói:
"Xấu quá!" hay là "Xui xẻo quá!" Nghiệp mà hiểu theo ư
nghĩa vận hội xui xẻo là nghiệp trong ngôn ngữ hằng ngày.
Nương tựa.
Giờ đây, cứu xét
đến chữ Nương tựa hoặc chữ Nâng
đỡ (Sarana). Trong ngôn
ngữ thường ngày, một nơi nương tựa, hoặc chỗ nâng
đỡ, là một người nào hay
là một vật ǵ ở bên ngoài ta, mà ta có thể tin cậy vào
để giúp
đỡ ta. Thí dụ như, ta nương
tựa vào người chủ hảng, vào thần linh, vào vận hội may mắn, hoặc
vào các vị thiên thần hộ mạng. Những ǵ hay những ai, khác hơn ta,
mà ta tin cậy để nhờ vả,
đó là ư nghĩa của chữ nương
tựa, hay của chữ nâng đỡ
được hiểu theo ngôn
ngữ hằng ngày.
Nơi nương tựa, nơi nâng
đỡ, (nơi qui y)
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp là nơi mà ta phải t́m thấy ở ngay
chính trong ta. Ngay cả khi ta nói Qui y Phật, qui y Pháp, qui
y Tăng,
điều mà ta thực sự
đang làm, là
đi t́m
Đức Phật, Chánh Pháp và Tăng
già ở ngay bên trong ta, ở ngay trong tâm ta. Chỉ có
được như thế th́ ba ngôi
Tam bảo (Phật bảo, Pháp bảo và Tăng
bảo) mới thật sự là nơi nương tựa của ta. Vậy th́ cả ba nơi nâng
đỡ đó phải được t́m thấy ngay
bên trong ta: các nỗ lực của chính ta mới làm khởi sanh lên Phật
bảo, Pháp bảo và Tăng bảo ngay
trong tâm ta. Căn cứ theo
Chánh Pháp, mỗi người phải là nơi nương tựa của chính ḿnh.
Nơi nương tựa của ai th́ nằm bên trong người ấy, chớ chẳng phải
đi t́m ở chỗ nào khác bên
ngoài.
Trái tim Phật giáo.
Các điều trên
đây dẫn ta đến từ ngữ Trái tim
Phật giáo. Trong các cuộc thảo luận về vấn
đề "những
điều nào là tinh hoa của Phật
giáo, là trái tim của Phật giáo?", có rất nhiều ư kiến thật
lạ lùng được đưa ra. Vài người
đọc thuộc ḷng ngay một "bài
thiệu" nầy, một công thức kia, thí dụ như VI SU PA (VI=
Vinaya, Luật tạng; SU= Sutta, Kinh tạng; PA=
Paramattha, Chơn đế trong Luận
tạng) chẳng hạn. Cái thứ "cốt lơi", "trái tim" như thế ấy,
đó là ngôn ngữ thường ngày
thông dụng của kẻ quá ngây ngô. Các người chưa thông hiểu chi về
Chánh Pháp thường đọc ron rót
một hai chữ Pali hoặc một câu sáo ngữ nào rồi tuyên bố rằng
đó là tinh hoa, là trái tim
của Phật giáo.
Trái tim của Phật giáo, như từ ngữ nầy
đă
được hiểu trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, như đă
được Đức Phật nói đến, là sự
nhận thức rằng, chẳng có bất cứ sự vật ǵ
đáng để cho ta bám chặt và
đeo níu vào cả:
"Sabbe dhammà nalam abhinivesaya."
"Chẳng có bất cứ ǵ đáng được bám
chặt và đeo níu vào như là
"Ta" hay là "của Ta".
Đó l à trái tim của Phật giáo, như
đă
được hiểu trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, theo như ngôn từ của Đức
Phật. Vậy th́, người nào muốn
đi t́m trái tim của Phật giáo, (= phần tinh túy nhứt
của Phật giáo) cần nên thận trọng
để khỏi phải bắt lấy trái
tim trong ngôn ngữ thường ngày của hạng người c̣n mê mờ về
Chámh Pháp. Cái loại "trái tim" như thế thường là những ǵ c̣n ấu
trĩ, đáng buồn cười.
Những ǵ tôi đă
nói qua cho đến đây, có lẽ cũng đủ
giúp bạn nhận thức ra được
rằng, mỗi một danh từ lại có thể có hai nghĩa rất khác
nhau. Một người thông minh có óc phân biện, sẽ
đủ sức để cứu xét cả hai lối
nói. "Bực hiền trí là người cẩn thận cứu xét cả hai thể thức nói năng."
Hai thể thức nói năng đó tức là
hai ư nghĩa mà một danh từ có thể có
được: một ư nghĩa theo trong ngôn ngữ b́nh dân, c̣n một,
thuộc về ngôn ngữ trong Chánh Pháp. Một người biết phân biện tinh
tế phải nên cứu xét cả hai ư nghĩa, như chúng ta
đă làm, qua rất nhiều thí dụ
được nêu ra từ trước.
Những từ ngữ mà chúng tôi
đă lựa chọn
để cứu xét qua, thật ra là
những thuật ngữ hơi cao cấp. Giờ đây
xin xét đến các tiếng tầm thường hơn, và tôi xin lỗi trước,
nếu bạn thấy chúng hơi thô kệch một chút!
Ă n.
Hăy lấy chữ Ăn.
Trong ngôn ngữ thường ngày, Ăn
có nghĩa là nuốt chất bổ dưỡng, qua cửa miệng, vào theo con
đường thông thường. Nhưng
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, Ăn
có thể ăn bằng mắt, tai,
lưỡi, thân và tâm. Xin hăy suy nghĩ kỹ về
điều nầy. Chữ Ăn ở
đây muốn nói đến điều ǵ? Mắt
nh́n thấy h́nh sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, và các
giác quan c̣n lại cũng ăn
như thế. Đó là muốn nói
đến sự Ăn, ăn bằng mắt, tai,
mũi, và vân vân. Đó là
ngôn ngữ của Chánh Pháp. Thí dụ như trong tiếng Pali và tiếng
Phạn, danh từ kamabhogi được
thường dùng để trỏ vào
một người say đắm vào nhục
cảm; thật ra, theo nghĩa từng chữ một, th́ danh từ
đó có nghĩa là "kẻ
ăn nhục cảm".
Từ ngữ "ăn một
phụ nữ" , người Thái chúng ta ghe qua thấy rất kỳ dị.
Nhưng trong tiếng Pali và tiếng Phạn, danh từ ấy hoàn toàn là một
từ ngữ thông thường. Ăn một phụ
nữ chẳng có nghĩa là bắt người ấy mang
đi giết chết, đem nấu nướng và
nhai nuốt đi. Nó chỉ có nghĩa
là giao hợp sinh lư với người phụ nữ ấy.
Đó là nghĩa của chữ
Ăn trong trường hợp
nầy, và cũng là nghĩa trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Mặt khác, từ ngữ Pali Nibhogo (= chẳng
có ǵ để ăn) dùng
để mô tả
Đức Phật và các vị A la hán (Arahant,
bực hoàn toàn giác ngộ), bởi v́ các Ngài chẳng c̣n can dự chi vào
các h́nh sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, và tâm ảnh
nữa. Các Ngài đă vượt lên trên
sự can dự vào sáu loại đối
tượng của giác quan, cho nên được gọi
là những bực "chẳng có ǵ để
ăn cả". Xin hăy t́m biết rơ ư nghĩa rộng răi của chữ
Ăn trong ngôn ngữ của
Chánh Pháp, nhờ đó mà bạn sẽ
hiểu được các phương diện thật
sâu xa của lời dạy về giáo pháp.
Ngủ.
Giờ đây, tới chữ
Ngủ. Khi ta dùng chữ nầy để
chỉ việc nằm dài xuống và đánh
một giấc như con chó hay con mèo, th́ ta
đang nói theo ngôn ngữ thường
ngày. Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ ngủ mê trỏ
vào sự vô minh (avijja), tức là sự mê mờ, ngu dốt.
Mặc dầu một người c̣n ngồi sửng đó
với đôi mắt rộng mở, nhưng nếu người ấy c̣n chưa thấu hiểu
rơ bản chất thực sự của muôn pháp (= sự vật) th́
đó là một người ngủ mê.
Đó là sự ngủ mê theo
nghĩa trong ngôn ngữ của Chánh pháp. Sống trong sự mê mờ về bản
chất thực sự của muôn pháp, chẳng kể thân thể
đang ở tư thế nào,
đó gọi là c̣n ngủ mê.
Tỉnh thức.
T́nh thức thông thường có nghĩa là
đă thức dậy ra khỏi giấc ngủ.
Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ T́nh thức có nghĩa
là luôn luôn tỉnh táo, chú ư, luôn luôn hay biết hoàn toàn. Trong
t́nh trạng tâm thức như thế, chẳng kể là người kia
đang nằm ngủ hay đang ngồi thức,
người ấy vẫn được mô tả như người tỉnh thức. Những
ai thực tập về Niệm xứ (Satipatthàna) th́ luôn luôn
tỉnh thức. Ngay cả khi đi ngủ,
các vị ấy liền tỉnh thức hoàn toàn, ngay vào lúc vừa
mới thức giấc. Khi các vị c̣n thức, các vị tỉnh thức, mà
khi ngủ, các vị ấy cũng tỉnh thức nữa.
Đó là những ǵ mà nghĩa của
chữ Tỉnh thức được nói đến
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Vui đùa.
Trong ngôn ngữ của thường nhơn, vui
đùa có nghĩa là chơi giỡn,
như trẻ con vui đùa với
các tṛ chơi, thể thao, reo cười, và diễu cợt. Nhưng trong ngôn
ngữ của Chánh Pháp, vui đùa
có nghĩa là hân hoan với Chánh Pháp, thích thú trong Chánh
Pháp. Ngay cả việc vui đùa
với niềm an lạc liên quan đến các
trạng thái thiền định, được
gọi theo danh từ Pali là Jhànakila, nghĩa là những
tṛ chơi về định lực.
Đấy là thú vui
đùa của các bực Thánh (Ariyans,
bực Thánh hiền đă tiến triển
thật xa trên con đường tu tập
theo Chánh Pháp). Đấy là nghĩa
của chữ vui đùa trong
ngôn ngữ của Chánh Pháp.
Tiên nữ.
Kế đến là
chữ Tiên nữ. (...) Trong ngôn ngữ hằng ngày, chữ Tiên nữ
chỉ đến các vị phụ nữ sắc
đẹp tuyệt trần ở trong các lầu
đài tráng lệ trên cơi Trời. Họ
là hiện thân của sắc đẹp về thể
chất. Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ Tiên nữ lại
trỏ vào Phật Pháp. Thường thường, người ta giới hạn nghĩa chữ ấy
vào các Kinh điển được viết ra và
các kinh sắch được đọc tụng,
nhưng thật ra, chữ ấy bao trùm tất cả Chánh Pháp, bởi v́ tất cả
Chánh Pháp đều tốt đẹp ở khoảng đầu,
tốt đẹp ở khoảng giữa và
tốt đẹp ở khoảng cuối (như đă
được giải thích ở
đoạn Lối Sống Thánh Thiện
ở trước). Như thế, ngay cả chữ Tiên nữ cũng có nhiều
giai tầng về ư nghĩa; và trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, chữ ấy là
niềm hi vọng của tất cả Phật tử.
Nam và nữ.
Giờ đây, xin xét
đến hai danh từ Nam và Nữ. Trong ngôn ngữ hằng ngày của thế
tục, hai chữ Nam và Nữ trỏ vào phái tính --
đàn ông và
đàn bà. Tuy nhiên, trong ngôn
ngữ của Chánh pháp, hai danh từ đó
nói đến các điểm đặc trưng và các dấu hiệu phân biệt,
để nêu rơ các nhiệm vụ riêng
rẽ mà Thiên nhiên đă phú thác
cho loài người: các nhiệm vụ đó cần
phải được thực hiện trong sự cộng tác, dưới h́nh thức tổ
hợp. Nhiệm vụ phối hợp nhau giữa Nam và Nữ,
chẳng phải chỉ v́ sự trao đổi và
thọ dụng các hương vị của nhục dục.
Đúng hơn, nhiệm vụ ấy nhằm vào mục tiêu là nhơn loại cần
phải hiện hữu trên thế giới và chủng tộc cần
được duy tŕ măi chẳng bị diệt
vong. Điều nầy có nghĩa là
loài người cần phải được bảo
tồn xuyên qua nhiệm vụ truyền giống của Nam và Nữ,
trong thời gian dài cần thiết để cho
nhơn loại thực hiện kỳ được
mục tiêu cao cả nhứt của Chánh Pháp -- Niết bàn (Nibbàna).
Nhiệm vụ để thoả măn sự cần
thiết đó đ̣i ḥi phải
được phân chia ra cho cả
Nam lẫn Nữ. Một khi người Nam và người Nữ
đă hiện hữu trên cơi
đời nầy, họ giúp đỡ lẫn nhau để làm
nhẹ gánh nặng chung, bằng cách chia cho nhau các trách nhiệm và
công việc, và khi các nhiệm vụ và công việc nầy
được hoàn tất một cách thật
đứng
đắn, th́
đấy chính là sự tu tập
đúng theo Chánh Pháp.
Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, các
điểm đặc trưng và các dấu hiệu
phân biệt mà Thiên nhiên đă ấn
định theo cách ấy, được gọi là
Nam hay Nữ. Hai danh từ
đó chẳng có chút nghĩa thấp kém nào như trong ngôn ngữ hằng
ngày.
Ta chớ nên nghĩ
đến nam nữ như chỉ là vấn
đề bản năng
thú tánh về hoạt động t́nh
dục. Đúng hơn, ta nên xem
đó như là các kư hiệu của sự
phân chia ra các nhiệm vụ để được hoàn
thành một cách đứng
đắn trong sự hợp tác.
Hôn nhơn.
Từ vấn đề
Nam Nữ, ta bước sang vấn đề
Hôn nhơn.
Trong ngôn ngữ hằng ngày, ai cũng hiểu danh từ
đó là một lễ nghi
để kết hợp
đàn ông với
đàn bà, theo phong tục và tập
quán của xă hội. Đó là hôn
nhơn theo nghĩa trong ngôn ngữ thế tục. Tuy nhiên, trong tiếng
Pali, trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, danh từ Hôn nhơn
được gọi bằng chữ is
samarasa, nếu dịch ra từ chữ là "có bằng nhau (sama) về
hương, vị, nhiệm vụ hoặc chức năng (rasa),
xuyên qua Chánh Pháp, hoặc trong Chánh Pháp.
Điều nầy có nghĩa là hai người
với các nhu cầu và mong ước chơn chánh,
được phối hợp với nhau như
một. Sự tiếp xúc về thể chất có thể chẳng cần thiết, mặc dầu họ có
giao tiếp nhau dưới nhiều h́nh thức khác, như viết thơ cho nhau
chẳng hạn.
Hôn nhơn cũng vẫn có thể có
được mặc dầu da thịt của hai người
bạn đời chưa hề đụng
chạm nhau. Đó là bởi v́ họ có
chung các điều mong muốn và
nhiệm vụ của họ cũng bằng nhau. Thí dụ như cả hai
đều mong muốn vượt lên sự khổ
sở (dukkha) bằng cách cùng tuân theo các nguyên tắc tu tập
giống nhau. Cả hai người đều thấy
thoả măn trong sự phối hợp nhau thực tập Chánh Pháp và
trong các quả vị mà họ cùng nhau ước muốn.
Đây là
điều mà trong tiếng Pali và
trong ngôn ngữ của Chánh Pháp gọi là "có hương vị bằng nhau". Ư
nghĩa của các danh từ trong Chánh Pháp bao giờ cũng trong sáng và
tinh khiết như trong thí dụ nầy.
Cha mẹ.
Giờ đây, đến hai
danh từ Cha và Mẹ. Trong ngôn ngữ thông thường của thế tục,
hai chữ đó nói đến hai người đă
chịu trách nhiệm đưa chúng ta ra chào
đời. Nhưng trong ngôn ngữ thâm
sâu hơn của Chánh Pháp, Cha ta là sự vô minh (avijja),
c̣n Mẹ ta là sự khát ái (tanhà). Cần giết
chết họ đi, và dẹp bỏ họ hoàn
toàn. Thí dụ như, Đức Phật có nói:
"Marram pitram hanivà akatannùsi bràhmana"
Hăy vô ơn. Giết cha, giết mẹ, rồi sẽ
đắc Niết bàn.
Cha ta, người chịu trách nhiệm về sự sanh
ra ta, chính là sự ngu dốt (avijja, vô minh); c̣n Mẹ
ta, người đẻ ra ta, chính là
sự tham muốn (tanhà, khát ái). Hai danh từ Cha và
Mẹ trong ngôn ngữ của Chánh Pháp,
đă được Đức Phất cấp cho các
nghĩa cao sâu đó. Vậy,
"song thân" -- vô minh và khát ái (avijja & tanhà)
-- cần phải đem đi giết, tận
diệt hết, để cho Niết bàn
(Nibbàna) mới thành tựu
được.
Bằng hữu.
Trong ngôn ngữ hàng ngày của thế tục, danh từ
Bằng hữu trỏ vào một người bạn chung
đường, hay một kẻ nào làm những việc thích thú cho ta.
Nhưng trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, Bằng hữu hoặc
Đạo hữu lại chỉ ngay vào
Chánh Pháp và nhứt là cái khiá cạnh của Chánh Pháp
đă giúp ta
được giải thoát ra khỏi sự khổ
sở (dukkha). Đức Phật đă
đặc biệt nhấn mạnh rằng Bát
Chánh Đạo tức là người bằng
hữu tối thượng của nhơn loại (kalyanamitta). Trong ngôn ngữ
của Chánh Pháp, người bằng hữu, người
đạo hữu có nghĩa là Bát
Chánh Đạo: Chánh tri kiến,
Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp, Chánh tinh tấn,
Chánh niệm và Chánh định.
Kẻ thù.
Kẻ thù, trong ngôn ngữ hằng ngày là người mà ta
oán ghét và hay đi t́m cách
làm hại ta. Nhưng, Kẻ thù, như
được hiểu theo trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, lại chính là
cái tâm trí lạc hướng của riêng ta. Tâm trí ta và sự xử dụng tâm
trí đó một cách sai lầm,
đó mới đúng là kẻ thù thực
sự của ta. Kẻ thù của ta là tâm lạc hướng của chính ta,
chớ chẳng phải ai đâu ở bên
ngoài. Kẻ thù, mà người thường đang
nghĩ trong đầu họ, là kẻ thù trong ngôn ngữ hằng ngày. C̣n
kẻ thù trong ngôn ngữ Chánh Pháp là cái tâm trí lạc hướng. Kẻ thù
đó hiện khởi lên mỗi khi tâm
đi lạc đường. Kẻ thù ấy sanh
ra từ cái tâm, và cũng là cái tâm ấy luôn. Khi tâm trí theo
đúng chiều hướng của Chánh
Pháp và an trú trong Chánh Pháp, th́ lúc
đó kẻ thù vắng bóng, mà
bằng hữu th́ lại có mặt.
Sự hôi thúi.
Giờ đây, ta thử
hỏi: "Cái ǵ hôi thúi, mùi khăm
khắm vậy?" Câu trả lời trong ngôn ngữ hằng ngày có thể
đó là con cá chết śnh, hoặc
một vật ǵ cũng giống như vậy. Nhưng trong ngôn ngữ trong Chánh
Pháp, lời giải đáp sẽ khác hẳn. Đức
Phật khi nói đến các lậu hoặc tinh thần (kilesa),
Ngài xem đó như là những sự
việc hôi thối nặc mùi. Tham muốn quá mức, tự hướng ngă (self
centredness) và bị ám ảnh măi với các ư tưởng "Ta" và "của
Ta", đó là các sự việc hôi
thúi, nặc mùi xú uế.
Tất cả các từ ngữ, mà ta vừa cứu xét qua, chỉ
hoàn toàn là những tiếng thông thường
được chọn ra để chứng minh sự khác biệt giữa ngôn ngữ hằng
ngày với ngôn ngữ trong Chánh Pháp. Nếu bạn suy cứu cho cẩn thận,
bạn sẽ nhận thức ra được rằng sự khác
biệt đó chính là lư do
đă làm cho ta cỏn chưa hiểu
nổi được Chánh Pháp. Ta chẳng
hiểu nổi các điểm cao thâm
nhứt trong Chánh Pháp, giản dị cũng chỉ v́ ta chưa biết
được rơ ngôn ngữ trong Chánh
Pháp. Ta chỉ biết có ngôn ngữ hằng ngày thôi và c̣n chưa
đủ khả năng
để thông suốt được ngôn
ngữ của các bực Thánh hiền (Ariya, các vị
đă tiến xa trên
đường tu tập).
Cười.
Hăy xét đến chữ
Cười. Đức Phật có một lần nói
rằng: "Cười là thái độ của đứa
hài nhi nằm trong nôi." Xin hăy nghĩ kỹ lại cho cẩn thận.
Ta thường thích thật ḷng cười to lên, mặc dầu vẫn biết
đó là thái
độ của đứa hài nhi nằm trong
nôi. Tiếng cười đó chẳng làm
ta bối rối chút nào cả. Ta thích thế. Ta cứ tiếp tục tiếng cười to
hô hố măi. V́ sao Đức Phật lại bảo,
"Cười là thái độ của đứa hài
nhi nằm trong nôi"? Hăy nghĩ đến đứa
bé con trong nôi nh́n vào ta và cách nó nằm
đó mà cười.
Tiếng cười của các bực Thánh lại khác. Các Ngài
cười, cười vào tất cả các sự vật phức hợp (sankhàra,
chư hành), v́ biết chúng là vô thường, bất toại nguyện (dukkha,
khổ sở) và vô ngă. Bởi v́ các Ngài biết, khi các Ngài có thể
cười vào các sự vật hữu vi và sự khát ái, th́ các sự vật ấy
chẳng thể gây chút tổn hại nào được
tới các Ngài. Lối cười như vậy mới thật là tiếng
cười chân chánh, tiếng cười đầy ư
nghĩa và có giá trị.
Ca hát.
Giờ đây đến việc
Ca hát. Tiếng hát, như
đang nghe trong máy thâu thanh, giống như là có kẻ nào
đang khóc nỉ non. Các bực
Thánh xếp tiếng ca hát vào loại khóc than.
Trong khi ca hát, cử
động của miệng, cuống họng, các giây
âm thanh, và lưỡi, cũng giống hệt như khi
đang khóc. Nhưng nếu đó là một
khúc ca thực sự, tiếng ca của bực Thánh, th́
đó là tiếng thánh ca của niềm
hân hoan được nh́n thấy Chánh
Pháp. Tiếng ca đó tuyên dương
Chánh Pháp và nó cũng tuyên dương sự măn ư trong Chánh Pháp. Tiếng
ca của bực Thánh hiền (Ariya) là tiếng thánh ca của sự hoan
lạc vinh danh Chánh Pháp. Đấy mới là
các giọng ca thực sự.
Vũ múa.
Kế đến là
Vũ múa, rất b́nh dân. Dân chúng cố gắng
để học cách khiêu vũ và muốn
con trai, con gái ḿnh cũng học nữa. Họ tốn thật nhiều tiền cho
việc khiêu vũ. Tuy nhiên, bực Thánh (Ariya) lại xem việc vũ
múa đó như là các tṛ khỉ của
người điên. Bạn có thể tự ḿnh
nhận thấy rơ vũ múa với các tṛ khỉ của người
điên, giống hệt nhau, một khi
bạn chịu khó so sánh. Chẳng ai c̣n đủ
trí óc lành mạnh mà lại đứng
bật lên nhảy múa khiêu vũ cả! Có sự ước lượng rằng phải có
mười lăm phần trăm điên khùng
trong người mới đủ can
đảm vượt qua được sự biết xấu
hổ để đứng lên muá may khiêu
vũ. Vậy th́, khiêu vũ là các tṛ khỉ của người
điên.
Vũ điệu của bực
Thánh là Pháp lạc (Dhammanandi, niềm hoan lạc
trong Chánh Pháp) Các Ngài "vũ" lên và cười nhạo với các lậu hoặc
(kilesa), tuyên dương sự giải thoát của các Ngài. Các Ngài
chẳng c̣n bị trói buộc và tay, và chơn, nữa. Tứ chi của các Ngài
đă
được tự do. Các Ngài có thể vũ
múa v́ các Ngài đâu c̣n bị
vướng vít vào sự luyến ái nữa. Đó là
các vũ điệu và cách múa của
bực Thánh.
Mù loà.
Bạn cần suy nghĩ kỹ ở
đây. Người chưa thông suốt
ngôn ngữ của Chánh Pháp khó mà hiểu nổi cách nói năng
sau đây. Một người hiền trí bảo: "Chim chóc chẳng thấy
được bầu trời," và người
điên rồ lại chẳng hề tin việc
đó. Thế th́ tại sao loài chim
chẳng nh́n thấy bầu trời? Đấy là
bởi v́ chúng đang bay liệng
trong bầu trời đó. Người hiền
trí bảo, "Loài cá chẳng thấy được
nước" và người điên rồ
lại cũng chẳng tin theo. Họ chẳng bao giờ ngỡ rằng loài cá sống
trong nước và chẳng thể thấy nước
được, bởi v́ loài cá tiếp xúc quá gần gũi với nước. Cá
chẳng biết ǵ về nước cả. Cùng thế ấy, các con trùn luôn
đào hang dưới
đất, nên chẳng thấy
được đất. Và các con ḍi sống
trong đống phân, sanh ra và
chết đi cũng trong phân, nên
chẳng hề bao giờ trông thấy được đống
phân.
Sau chót là câu: "Nhơn loại chẳng thấy
được thế giới". Dân chúng sanh
sống và di chuyển trong thế giới, nhưng vẫn c̣n chưa thấy
được thế giới. Nếu thực sự họ
thấy được thế giới rồi, họ
đă chẳng
để ḿnh bị dính kẹt vào thế
giới ấy. Thế nào họ cũng muốn được
giải thoát ra khỏi thế giới và an trú vào trong Chánh Pháp.
Những ai đang bị sa lầy trong
thế giới, tựa như con ḍi trong đống
phân, chỉ hiểu biết được có
ngôn ngữ hằng ngày mà thôi.
Lư do v́ sao họ chẳng hiểu biết
đến Chánh Pháp,
đó là v́ họ bị vướng kẹt chặt
chẽ vào thế giới, cũng tựa như con ḍi trong
đống phân, con trùn dưới
đất, con cá trong nước, và con
chim trên bầu trời. Dân chúng chẳng biết
đến Chánh Pháp.
Đă chẳng biết
đến Chánh Pháp, làm sao họ
hiểu nổi Chánh Pháp?
Đi chẳng dến đâu .
Sau đây là
một thí dụ khá hay về ngôn ngữ trong Chánh Pháp: "Đi,
đi măi, và chẳng bao giờ dến." Người trung b́nh khó mà nắm
bắt được ư nghĩa câu ấy. Ở
đây, "Đi"
có nghĩa là muốn một điều ǵ
và cất bước lên đường đi t́m
điều ấy. "Chẳng bao giờ
đến" trỏ vào sự an hoà, vào
Niết bàn (Nibbàna), c̣n chưa
đạt đến được. Niết bàn
chỉ đạt được khi nào chẳng c̣n
ước muốn, chẳng c̣n khao khát, chẳng c̣n kỳ vọng, chẳng c̣n ôm ấp
mơ tưởng nữa. Vậy th́, chẳng cần phải ra "đi"
ǵ cả; do chẳng"đi" mà Niết
bàn mới chứng đắc được. Đi, cứ đi
măi, th́ chẳng bao giờ đến.
Muốn, muốn hoài, th́ chẳng bao giờ
đạt được. Ta càng muốn nhiều
về một điều ǵ -- muốn
được cắi nầy, được cái nọ; muốn thành
ra như thế nầy, như thế kia -- th́
điều ấy lại càng trở nên khó
đạt được bấy nhiêu. Tất cả những ǵ cần phải làm là hăy dẹp
bỏ hết việc mong muốn, và rồi ta sẽ
được tất cả, đầy đủ, ngay liền
đó.
Im lặng.
Trong ngôn ngữ của Chánh Pháp, có câu: "Lời nói
chẳng vang lên, sự im lặng mới rền vang."
Điều nầy có nghĩa là, khi tâm
trí đang được khéo tập trung
lại, ổn định và vắng lặng, th́
tiếng nói của Chánh Pháp sẽ nghe được
rơ. Lại nữa, có câu: "Những
điều được nói ra, đó chẳng phải là Chánh Pháp thực sự;
Chánh Pháp thực sự chẳng thể nào nói
được ra bằng lời." Những ǵ tôi
đă nói qua trong bài pháp
thoại nầy vẫn c̣n chưa phải là Chánh Pháp thực sự,
đó vẫn c̣n chưa phải là sự
việc thực sự. Lời nói của tôi chẳng qua là một cố gắng
để giảng giải phải làm cách
nào để đi đến với sự việc chơn
thật và hiểu được nó. Việc chơn
thật th́ chẳng thể nào bàn luận được.
Ta càng nói nhiều về Chánh Pháp, ta lại càng xa rời Chánh
Pháp hơn. Ta chỉ có thể nói về phương pháp làm thế nào
để hướng dẫn ta dọc
đường, để mách cho ta những ǵ
cần phải làm mới có thế tiến tới sự việc chơn thật, tức là với
Chánh Pháp chơn chánh. Vậy th́, ta nên ngưng việc nói năng
lại.
Đúng như vậy, chúng ta sẽ ngưng lại hết sự so
sánh của chúng ta về ngôn ngữ hằng ngày với ngôn ngữ trong Chánh
Pháp. Tôi đề nghị các bạn nên
suy nghĩ điều nầy cho thật chín
chắn, và quyết định xem có nên
đồng ư với tôi chăng,
về sự thất bại của chúng ta c̣n chưa hiểu thông suốt
được Chánh Pháp. Vài người
trong chúng ta đă
đi nghe nhiều bài thuyết pháp,
nhiều cuộc tham luận về Chánh Pháp từ mười năm,
hai mươi năm, ba mươi năm, và nhiều hơn nữa. Tại làm sao mà
chúng ta vẫn c̣n chưa hiểu được Chánh
Pháp, thấy được Chánh Pháp,
thấm nhập vào Chánh Pháp? Lư do khiến chúng ta chẳng hiểu
được Chánh Pháp chỉ giản dị là
chúng ta đă nghe Chánh Pháp
chẳng đúng cách. Và tại sao
cách nghe Pháp của ta lại chẳng đúng
đắn?
Đó là bởi v́ chúng ta chỉ biết
quen thuộc với ngôn ngữ hằng ngày mà thôi. Chúng ta nghe Chánh
Pháp mà lại hiểu nó theo ngôn ngữ hằng ngày. Chúng ta cũng tựa như
những người điên rồ
đă
đem chữ tánh không, sự rỗng
vắng (Sunnatà) trong Chánh Pháp ra mà hiểu theo
ngôn ngữ hằng ngày, đánh mất hoàn
toàn ư nghĩa của chữ ấy theo Chánh Pháp, và rồi lại dám
đưa ra các điều xác quyết rất
ư buồn cười và lố lăng, về chữ ấy.
Đấy là những hậu quả
đáng buồn của việc chẳng quen
thuộc với cả hai ngôn ngữ: ngôn ngữ hằng ngày và ngôn ngữ trong
Chánh Pháp.
Những ai ở vào trường hợp nầy, vẫn c̣n chưa có
đủ trí thông minh mẫn tiệp
để hiểu được Chánh Pháp. Họ
thiếu hẳn sự phân biện, một đức
tánh mà Đức Phật nhắc đến khi Ngài
nói:
Appamatto ubho atthe adhiganhàti pandito,
Ditthe dhamme ca yo attho, yo ca’ttho samparàyiko.
Atthàbhisamayàdh́ro pandito ti pavuccati.
Người hiền trí và tỉnh giác quen thuộc với cả
hai cách nói năng:
Ư nghĩa mà kẻ thông thường hiểu được
và ư nghĩa mà họ chưa hiểu nổi.
Ai thông thạo cả hai cách nói năng đó
mới là bực hiền trí.
Montreal, 14-04-2004
Thiện Nhựt phỏng dịch.
-ooOoo-
|